Bát Dật

From Wikiversity
Jump to navigation Jump to search
THIÊN III
BÁT DẬT
III.1

Khổng tử vị Quí thị bát dật vũ ƣ đình: “Thị khả nhẫn dã, thục bất khả nhẫn dã”.

Dịch. – Khổng tử bàn về việc Quí Thị dùng vũ “bát dật” (của thiên tử) ở đại sảnh (họ Quí), bảo: “Việc đó nhẫn tâm làm được thì việc gì mà không nhẩn tâm làm được?”.


III.2

Tam gia giả dĩ Ung triệt. Tử viết: “Tƣớng duy tịch công, thiên tử mục mục”, hề thủ ƣ tam gia chi đƣờng?”.

Dịch. – Ba nhà đại phu (nước Lỗ: Mạnh Tôn, Thúc Tôn, Quí Tôn) cho hát Ung (một thiên trong Chu tụng – Kinh Thi) khi dẹp đồ tế lễ đi. Khổng tử nói: “(Hai câu trong thơ Ung đó: ) “trợ tế là vua các chư hầu, thiên tử (làm chủ tế) thì rất nghiêm túc”, hát trong ba đại sảnh ba nhà đó thì còn ý nghĩa gì nữa?”.

Chú thích. – Theo lễ, khi thiên tử tế ở tôn miếu, thì các chƣ hầu trợ tế, và cho hát thơ Ung mà dẹp tế lễ. Khổng tử chê ba nhà đó, đã tiếm lễ của thiên tử, thơ Ung hát trong những trƣờng hợp đó hoá vô nghĩa.


III.3

Tử viết: “Nhân nhi bất nhân, nhƣ lễ hà? Nhân nhi bất nhân, nhƣ nhạc hà?”.

Dịch. – Khổng tử nói: “Người không có đức nhân thì lễ mà làm gì? Người không có đức nhân thì nhạc mà làm gì?”.


III.4

Lâm Phỏng vấn lễ chi bản. Tử viết: “Đại tai vấn! Lễ, dữ kì xa dã, ninh kiệm; tang dữ kì dị dã, ninh thích”.

Dịch. – Lâm Phỏng hỏi về gốc của lễ. Khổng tử đáp: “Câu hỏi đó quan trọng đấy! Lễ mà quá xa xỉ thì kiệm ước còn hơn; tang mà quá chú trọng nghi tiết thì thương sót còn hơn”.


III.5

Tử viết: “Di Địch chi hữu quân, bất nhƣ chƣ Hạ chi vô dã”.

Dịch. – Khổng tử nói: “Các nước Di, Địch (ở chung quanh Trung Quốc, lạc hậu) dù có vua cũng không bằng các nước Hoa Hạ (Trung Quốc) không có vua (vì Hoa Hạ có lễ nghi)”.


III.6

Quí thị lữ ƣ Thái Sơn. Tử vị Nhiễm Hữu viết: “Nhữ phất năng cứu dƣ?” Đối viết: “Bất năng”. Tử viết: “Ô hô! Tằng vị Thái Sơn bất nhƣ Lâm Phỏng hồ?”.

Dịch. – Họ Quí tế lữ ở núi Thái Sơn. Khổng tử hỏi Nhiễm Hữu (làm quan tể của họ Quí): “Anh không ngăn được sao?” Nhiễm Hữu đáp: “Không ngăn được”. Khổng tử nói: “Than ôi! Vậy là cho rằng núi Thái Sơn không bằng Lâm Phỏng sao?”.


III.7

Tử viết: “Quân tử vô sở tranh, tất dã xạ hồ? Ấp nhƣợng nhi thăng, há nhi ẩm, kì tranh dã quân tử”.

Dịch. – Khổng tử nói: “Người quân tử không ganh đua với ai, nếu có thì chỉ trong lúc bắn chăng? Vái nhường rồi mới bước lên, khi lui xuống thì mời người kia uống rượu. Ganh đua nhau như vậy mới là quân tử”.


III.8

Tử Hạ vấn viết: “Xảo tiếu thiến hề, mĩ mục phán hề, tố dĩ vi huyến hề” hà vị dã?” Tử viết: “Hội sự hậu tố”. Viết: “Lễ hậu hồ?” - Viết: “Khởi dƣ giả Thƣơng dã! Thủy khả dữ ngôn Thi dĩ hĩ”.

Dịch. – Tử Hạ nói: “(Kinh Thi nói: ) miệng xinh chúm chím cười, mắt đẹp long lanh sáng, trên nền trắng vẽ màu sặc sỡ” nghĩa là thế nào?”. Khổng tử đáp: “Có sẵn nền trắng rồi sau mới vẽ”. – Tử Hạ (lại hỏi): “(Nghĩa là) lễ phải ở sau (nhân) chăng?” Khổng tử nói: “Anh Thương phát khởi được ý ta, như anh mới có thể giảng Kinh Thi cho được”.


III.9

Tử viết: “Hạ lễ, ngô năng ngôn chi, Kỉ bất túc trƣng dã; Ân lễ, ngô năng ngôn chi, Tống bất túc trƣng dã; văn hiến bất túc, cố dã. Túc, tắc ngô năng trƣng chi hĩ”.

Dịch. – Khổng tử nói: “Lễ chế nhà Hạ, ta có thể nói được, nhưng nước Kỉ không đủ làm chứng; lễ chế nhà Ân, ta có thể nói được, nhưng nước Tống không đủ làm chứng, vì văn kiện và người hiền hai nước đó không đủ. Nếu đủ thì ta có thể chứng minh lời ta nói được”.


III.10

Tử viết: “Đế (có sách đọc là duệ), tự kí quán nhi vãng giả, ngô bất dục quan chi hĩ”.

Dịch. – Khổng tử nói: “Tế đế, từ lúc rót rượu xuống đất trở đi, ta không muốn xem nữa”.


III.11

Hoặc vấn đế chi thuyết. Tử viết: “Bất tri dã. Tri kì thuyết chi ƣ thiên hạ dã, kì nhƣ thị chƣ ƣ hồ?” Chỉ kì chƣởng.

Dịch. – Có người hỏi về thuyết tế đế. Khổng tử đáp: “Không biết. Nếu biết thuyết ấy, thì việc trị thiên hạ cũng như ở trong cái này chăng?” Ngài vừa nói vừa chỉ vào bàn tay.


III.12

Tế nhƣ tại, tế thần nhƣ thần tại. Tử viết: “Ngô bất dữ tế, nhƣ bất tế”.

Dịch. – Tế tổ tiên như tổ tiên ở trước mặt, tế thần như thần ở trước mặt. Khổng tử nói: “Khi ta (vì lẽ gì) không đích thân đứng tế (mà mượn người thay)tuy có tế đấy, vẫn (ân hận) như chưa tế”.


III.13

Vƣơng Tôn Giả vấn viết: “Dữ kì mị ƣ Áo, ninh mị ƣ Táo”; hà vị dã?”. Tử viết: “Bất nhiên - Hoạch tội ƣ thiên, vô sở đảo dã”.

Dịch. – Vương Tôn Giả (một đại phu cầm quyền ở Vệ) hỏi: “Tục ngữ có câu: “Nịnh thần Áo, thà nịnh thần Táo còn hơn”, câu ấy có nghĩa gì? Khổng tử đáp: “Không phải vậy. Mắc tội với trời thì cầu đảo đâu cũng vô ích”.


III.14

Tử viết: “Chu giám ƣ nhị đại, úc úc hồ văn tai! Ngô tòng Chu”.

Dịch. – Khổng tử nói: “Nhà Chu châm chước lễ chế của hai triều đại trước (Hạ, Ân) nên văn vẽ rực rỡ biết bao! Ta theo Chu”.


III.15

Tử nhập thái miếu, mỗi sự vấn. Hoặc viết: “Thục vị Trâu nhân chi tử tri lễ hồ, nhập thái miếu, mỗi sự vấn” . Tử văn chi, viết: “Thị lễ dã”.

Dịch. – Khổng tử vào thái miếu, thấy việc gì cũng hỏi. Có kẻ bảo: “Ai bảo con người đất Trâu (quê hương của Khổng tử ở Lỗ) ấy biết lễ. (Nếu biết thì sao) vào thái miếu, thấy gì cũng hỏi”. Khổng tử hay đƣợc bảo: “Nhƣ vậy là lễ đấy”.


III.16

Tử viết: “Xạ bất chủ bì, vị lực bất đồng khoa, cổ chi đạo dã”.

Dịch. – Khổng tử nói: “Bắn (cốt trúng chứ) không cốt xuyên qua tấm da, vì sức không đều nhau (nghĩa là không phải để đọ sức), đạo xưa như vậy”.


III.17

Tử Cống dục khứ Cáo (thời xƣa đọc là cốc) sóc chi khái (có ngƣời đọc là hí) dƣơng. Tử viết: “Tứ dã, nhĩ ái kì dƣơng, ngã ái kì lễ”.

Dịch. – Tử Cống muốn bỏ việc dâng cừu trong lễ Cáo sóc. Khổng tử bảo: “Tứ, anh tiếc con cừu, ta tiếc cuộc lễ”.


III.18

Tử viết: “Sự quân tận lễ, nhân dĩ vi siểm dã”.

Dịch. – Khổng tử nói: “Thờ vua hết lễ thì người ta cho là nịnh”. Chú thích. – Khổng tử than về thói đời thời đó coi vua không ra gì.


III.19

Định công vấn: “Quân sử thần, thần sự quân, nhƣ chi hà? Khổng tử đối viết: “Quân sử thần dĩ lễ,thần sự quân dĩ trung”.

Dịch. – (Vua Lỗ là) Định công hỏi: “Vua khiến bề tôi, bề tôi thờ vua, phải như thế nào?”. Khổng tử đáp: “Vua khiến bề tôi phải giữ lễ, bề tôi thờ vua phải trung (hết lòng)”.


III.20

Tử viết: “Thư cưu lạc nhi bất dâm, ai nhi bất thƣơng”.

Dịch. – Khổng tử nói: “Thiên Thư cưu trong Kinh Thi, vui mà không quá mức, buồn mà không thương tổn” (Nghĩa là vui buồn đều trúng tiết, vừa phải).


III.21

Ai công vấn xã ƣ Tể Ngã. Tể Ngã đối viết: “Hạ hậu thị dĩ tùng, Ân nhân dĩ bá, Chu nhân dĩ lật, viết: sử dân chiến lật”. Tử văn chi, viết: “Thành sự bất thuyết, toại sự bất gián, kí vãng bất cữu”.

Dịch. – (Vua Lỗ) Ai công hỏi Tể Ngã về việc lập đàn xã. Tể Ngã đáp: “Nhà Hạ trồng cây tùng ở đàn xã, nhà Ân trồng cây bá, nhà Chu trồng cây lật, là có ý khiến dân phải sợ hãi.


III.22

Tử viết: “Quản Trọng chi khí tiểu tai!” Hoặc viết: “Quản Trọng kiệm hồ?” - Viết: “Quản thị hữu tam qui, quan sự bất nhiếp, yên đắc kiệm?” - “Nhiên tắc Quản Trọng tri lễ hồ?” - Viết: “Bang quân thụ tắc môn, Quản thị diệc thụ tắc môn. Bang quân vi lƣỡng quân chi hiếu hữu phản điếm; Quản thị diệc hữu phản điếm. Quản thị nhi tri lễ, thục bất tri lễ?”

Dịch. – Khổng tử nói: “Khí lương của Quản Trọng nhỏ nhen thay! Có người hỏi: “Quản Trọng tiết kiện không?” Khổng tử đáp: “Họ Quản thu thuế “tam qui” không cho gia thần nào kiêm nhiếp nhiều việc, sao gọi là tiết kiệm được?” - “Thế Quản Trọng có biết lễ không?” – Đáp: “Vua Tề dựng bình phong che cửa, Quản Trọng cũng dựng bình phong che cửa: vua Tề khi khoản đãi hai vua nước ngoài, dùng cái phản điếm.Quản Trọng mà biết lễ thì ai mà không biết lễ?”.


III.23

Tử ngữ Lỗ thái sƣ nhạc viết: “Nhạc kì khả tri dã: thủy tác, hấp nhƣ dã, túng chi, thuần nhƣ dã, kiểu nhƣ dã, dịch nhƣ dã, dĩ thành”.

Dịch. – Khổng tử nói về nhạc lí với nhạc quan nước Lỗ: “Có thể biết được phép tấu nhạc: mới đầu, các âm thanh phấn khởi nhiệt liệt; rồi tới khúc phóng thì các âm thanh thuần nhiên điều hoà, rõ ràng, lại liên tục nhau, như vậy là thành khúc nhạc”.


III.24

Nghi phong nhân thỉnh kiến, viết: “Quân tử chi chí ƣ tƣ dã, ngô vị thƣờng bất đắc kiến dã”. Tòng giả kiến chi. Xuất viết: “Nhị tam tử hà hoạn ƣ táng hồ? Thiên hạ chi vô đạo dã cửu hĩ, thiên tƣơng dĩ phu tử vi mộc đạc”.

Dịch. – Viên quan phong nhân (giữ biên cương) ở ấp Nghi (của Vệ) xin được yết kiến Khổng tử, bảo: “Bậc quân tử (tức có đạo đức) nào tới đây, không có ai mà tôi không được yết kiến”. Học trò theo hầu Khổng tử thông báo với thầy rồi dắt vô. Viên quan đó, (yết kiến rồi) ra bảo: “Mấy thầy đừng lo phu tử mất chức. Thiên hạ vô đạo (tức loạn) đã lâu rồi, Trời sẽ dùng phu tử làm cái mõ gỗ (để tuyên dương giáo hoá)”.


III.25

Tử vị Thiều: “Tận mĩ hĩ, hựu tận thiện dã”, vị Võ: “Tận mĩ hĩ, vị tận thiện dã”.

Dịch. – Khổng tử khen nhạc Thiều: “Cực hay lại cực tốt lành”, khen nhạc Võ: “Cực hay, nhưng chưa cực tốt lành”.


III.26

Tử viết: “Cƣ thƣợng bất khoan, vi lễ bất kính, lâm tang bất ai, ngô hà dĩ quan chi tai”. Dịch. – Khổng tử nói: “Ở bậc trên mà không khoan hồng, làm lễ mà không nghiêm túc, gặp việc tang mà không bi thương, hạng người như vậy còn có gì cho ta xét nữa?”.