Jump to content

Học thuyết Đông dược

From Wikiversity

Đông dược từ Hán Việt có nghỉa là Thuốc Đông y được tạo ra từ các bài thuốc của các dược liệu cây cỏ được gọi là Thảo dược . THẢO có nghĩa là cỏ cây, còn DƯỢC nghĩa là thuốc. Thảo dược có nghỉa là thuốc được dùng làm thuốc cỏ cây được dùng trong việc chữa bệnh. những sản phẩm có nguồn gốc từ cỏ cây trong tự nhiên được sử dụng để điều trị hoặc hỗ trợ điều trị bệnh.

Hình thành và phát triển Đông dược

[edit]

Thảo dược đã có từ rất lâu trên mọi nền văn hóa. Bằng chứng bằng văn bản lâu đời nhất được tìm thấy trên một cổ vật của nền văn hóa Sumerian có niên đại 5.000 năm lịch sử ở Ấn Độ, chỉ có 12 công thức nhưng có thể chữa được vô số các loại bệnh khác nhau từ 250 loại cây, bao gồm cả cây anh túc.

Thần nông ở Trung quốc là người đầu tiên chế tạo thuốc thảo dược và viết sách thuốc thảo dược dùng trong việc trị bệnh Thần nông bản thảo kinh

Riêng ở Việt Nam, các vị lương y đã sử dụng thảo dược ngay từ thời khai thiên lập quốc với hai loại thuốc chính là

  • Thuốc bắc – cây cỏ được nhập từ Trung Hoa
  • Thuốc Nam –chủ yếu dùng cây cỏ trong chính đất nước của mình.

Dạng thuốc Đông y

[edit]

Đông dược , Thuốc Đông y được bào chế ở 5 dạng thuốc cơ bản: Thang, hoàn, tán, cao, đơn.

Thuốc thang

[edit]
Cho nước vào ấm đổ nước vừa đủ, nấu sôi thành thuốc nước uống. Đặc điểm thuốc thang là: dễ gia giảm hợp với tình hình bệnh cho nên là loại thuốc thường được dùng nhiều nhất trên lâm sàng. Nhược điểm chính của thuốc thang là cồng kềnh, mất công sắc thuốc, mất thì giờ, tốn chất đốt, có lúc lượng thuốc nhiều đối với trẻ em sẽ khó uống.

Thuốc hoàn

[edit]
Đem thuốc tán bột mịn dùng với nước mật hoặc hồ viên thành hoàn. Ưu điểm của thuốc là cho đơn có được uống ngay nhưng thuốc để lâu khó bảo quản, liều lượng có khi phải dùng nhiều, trẻ nhỏ khó uống.

Thuốc tán

[edit]
Thuốc được tán thành bột mịn dùng uống trong hoặc bôi ngoài, có lúc sắc cùng thuốc sắc. Nhược điểm của thuốc là khó bảo quản, khó uống đối với trẻ em.

Thuốc cao

[edit]
Thuốc được sắc lấy nước cô đặc thành cao, thuốc có thể chế thành dạng sirô hoặc dạng rượu để dễ bảo quản. Có loại thuốc cao dán hoặc cao mỡ, dầu dùng bôi, đắp ngoài đối với bệnh ngoại khoa ngoài da.

Thuốc đơn

[edit]
Thuốc hoàn hoặc tán, đưọc tinh chế như các loại Chí bảo đơn, Hồi xuân đơn, Tử tuyết đơn. Ngoài ra còn có các các dạng thuốc ngâm rượu, thuốc đinh như Khô trĩ đinh, thuốc đóng ống tiêm hiện đang sử dụng nhiều ở Trung quốc.

Bài thuốc Đông y

[edit]

Thành phần Bài thuốc Đông y

[edit]

Một bài thuốc Đông y gồm có 3 phần chính

Ngoài ra, còn có một số thuốc khác như

  • Thuốc dẩn - Sứ dược giúp dẫn thuốc vào nơi bị bệnh như Cát cánh dẫn thuốc lên phần bị bệnh ở trên, Ngưu tất dẫn thuốc xuống phần bị bệnh ở dưới .
  • Thuốc đều hòa - Hòa Dược giúp điều hòa các vị thuốc khác như Cam thảo, Đại táo, Gừng tươi.

Vị thuốc

[edit]

Bài thuốc Đông ( Nam hoặc Bắc) đều có thể gồm 1 vị hoặc nhiều vị. Một bài thuốc thông thường không nên dùng quá 12 vị.

Ví dụ

Bài Độc ẩm thang chỉ có vị Nhân sâm; bài thuốc chữa viêm gan chỉ có vị Nhân trần .

Bài thuốc nhiều vị là có hai vị trở lên như

bài Thông xị thang gồm có Thông bạch và Đạm đậu xị
bài Nhân trần Chi tử thang gồm có Nhân trần và Chi tử .

Việc phối hợp các vị thuốc trong một bài thuốc như thế nào để phát huy tốt nhất tác dụng của thuốc theo ý muốn của thầy thuốc đó là kỹ thuật dùng thuốc của Đông y.

  • Do việc phối hợp vị thuốc khác nhau mà tác dụng bài thuốc thay đổi. Ví dụ: Quế chi dùng với Ma hoàng thì tăng tác dụng phát hãn, còn Quế chi dùng với Bạch thược thì lại có tác dụng liễm hãn ( cầm mồ hôi).
  • Cũng có lúc việc phối hợp thuốc làm tăng hoặc làm giảm tác dụng của vị thuốc chính, ví dụ như Đại hoàng dùng với Mang tiêu thì tác dụng sẽ mạnh, nếu dùng với Cam thảo thì tác dụng sẽ yếu hơn.
  • Một số thuốc này có thể làm giảm độc tính của thuốc kia như Sinh khương làm giảm độc tính của Bán hạ.

Trong việc phối hợp thuốc cũng thường chú ý đến việc dùng thuốc bổ phải có thuốc tả như trong bài Lục vị có thuốc bổ như Thục địa, Hoài sơn, Sơn thù có thêm vị thuốc thanh nhiệt lợi thấp như Phục linh, Đơn bì, Trạch tả. Trong bài thuốc Chỉ truật hoàn có vị Bạch truật bổ khí kiện tỳ phải có vị Chỉ thực để hành khí tiêu trệ. Trong bài Tứ vật có Đương qui, Thục địa bổ huyết thì có vị Xuyên khung để hoạt huyết hoặc dùng thuốc lợi thấp kèm theo hành khí, thuốc trừ phong kèm theo thuốc bổ huyết.


Liều lượng thuốc

[edit]

Việc dùng thuốc nhiều hay ít là tùy theo biện chứng tình hình bệnh mà định, nguyên tắc là phải nắm chủ chứng để chọn những chủ dược trị đúng bệnh, không nên dùng thuốc bao vây quá nhiều gây lãng phí mà tác dụng kém đi

Liều lượng của mỗi vị thuốc tong bài này tùy thuộc vào các yếu tố sau:

  • Thuốc đó là chủ dược hay thuốc hỗ trợ, thuốc chính dùng lượng nhiều hơn.
  • Người lớn dùng lượng nhiều hơn trẻ em và người già.
  • Thuốc bổ thường dùng lượng nhiều hơn các loại thuốc khác.
  • Tùy trọng lượng của thuốc nặng hay nhẹ, ví dụ Thạch cao, Mẫu lệ dùng nhiều như Đăng tâm, Thuyền thoái nhẹ nên chỉ dùng lượng ít.

Ngoài ra còn tùy tình hình bệnh và mục đích dùng thuốc mà quyết định lượng thuốc.

Theo cân lượng thường dùng cân thuốc Đông y ( 1 cân = 16 lạng) tính thành gam như sau:

  • 1 cân = 500 gam.
  • 1 lạng = 31,25 gam.
  • 1 đồng cân = 3,1 gam.
  • 1 phân = 0,31 gam.
  • 1 gam = 3 phân 2 ly.
  • 1 ly = 0,03 gam.


Sắc thuốc

[edit]

Dụng cụ sắc thuốc tốt nhất là dùng ấm đất, cũng có thể dùng ấm nhôm. Thuốc bỏ vào ấm đổ nước ngập khoảng 2 cm, ngâm thuốc khoảng 15 - 20 phút trước lúc sắc cho thuốc ngấm đều nước, với thang thuốc ngoại cảm thường sắc 2 lần. Mỗi lần sắc còn 1/3 lượng nước đổ vào, thuốc bổ nên sắc 3 lần lúc nước sôi cho nhỏ lửa, sắc lâu hơn và thuốc cô đặc hơn. .


Những điều chú ý lúc sắc thuốc:

  • Những thuốc thơm có tinh dầu như Bạc hà, Hoắc hương, Kinh giới. nên cho vào sau ( 10 phút trước khi đem thuốc xuống).
  • Những loại thuốc cứng, nặng như vỏ sò, mai rùa cần đập vụn và cho vào sắc trước.
  • Những thứ hạt nhỏ như hạt Củ cải, hạt Tía tô.nên bỏ vào vải rồi cho vào sắc.
  • Những thuốc có độc tính như: Phụ tử, Ô đầu, Thảo ô. nên sắc trước độ nửa giờ rồi cho các thuốc khác vào sau.
  • Những thuốc quí như: Nhân sâm hoặc thuốc nam lượng nhiều quá cũng nên sắc riêng rồi trộn chung với thuốc sắc để uống.

Uống thuốc

[edit]

Tùy theo loại thuốc mà cách uống thuốc khác nhau, thường mỗi thang thuốc sắc 2 lần.

  • Nếu là thang thuốc bổ nên sắc 3 lần rồi trộn lẫn uống trong một ngày.
  • Thuốc thanh nhiệt và thuốc dưỡng âm nên uống lúc nguội.
  • Thuốc tán hàn và thuốc bổ dương nên uống nóng.
  • Thuốc chữa ngoại cảm, trừ phong nên uống lúc đang bệnh.
  • Thuốc bổ và thuốc chữa bệnh mạn tính nên uống vào sau lúc ăn 1 - 2 giờ, thường uống vào 8 giờ sáng, 2 giờ chiều, tối trước lúc đi ngủ. Đối với trẻ em lượng thuốc có thể chia nhiều lần để uống trong ngày.