Lý Nhân

From Wikiversity
Jump to navigation Jump to search
THIÊN IV
LÍ NHÂN
IV.1

Tử viết: “Lí nhân vi mĩ. Trạch bất xử nhân, yên đắc trí?”.

Dịch. – Khổng tử nói: “Làng nào có đức nhân, là nơi ấy tốt. Chọn chỗ ở mà không lựa chọn nơi có đức nhân, thì sao gọi là sáng suốt được”.


IV.2

Tử viết: “Bất nhân giả, bất khả dĩ cửu xứ ƣớc, bất khả dĩ trƣờng xứ lạc. Nhân giả an nhân, trí giả lợi nhân”.

Dịch. – Khổng tử nói: “Người không có đức nhân thì không thể ở lâu trong cảnh khốn cùng, cũng không thể ở lâu trong cảnh hoan lạc. Người có đức nhân vui lòng làm điều nhân, người thông minh sáng suốt biết rằng đức nhân có lợi cho mình và cho người nên làm điều nhân”.


IV.3

Tử viết: “Duy nhân giả năng hiếu nhân, năng ố nhân”.

Dịch. – Khổng tử nói: “Chỉ có người đức nhân mới biết yêu người, ghét người (một cách công tâm, chính đáng)”.


IV.4

Tử viết: “Cẩu chí ƣ nhân hĩ, vô ác dã”.

Dịch. – Khổng tử nói: “Nếu quyết chí thực hành đức nhân thì không làm điều ác”.


IV.5

Tử viết: “Phú dữ quí, thị nhân chi sở dục dã, bất dĩ kì đạo đắc chi, bất xử dã. Bần dữ tiện, thị nhân chi sở ố dã, bất dĩ kỳ đạo đắc chi, bất khứ dã. Quân tử khứ nhân, ố hô thành danh? Quân tử, vô chung thực chi gian vi nhân, tháo thứ tất ƣ thị, điên bái tất ƣ thị”.

Dịch. – Khổng tử nói: “Giàu và sang, người ta ai cũng muốn, nhưng chẳng phải đạo mà được giàu sang thì người quân tử chẳng thèm. Nghèo và hèn, người ta ai cũng ghét, nhưng chẳng lỗi đạo mà phải nghèo thì người quân tử chẳng bỏ”. - Người quân tử mà bỏ đức nhân thì làm sao được gọi là quân tử? - Người quân tử dù trong bữa ăn (một thời gian ngắn) cũng không làm trái điều nhân, dù trong lúc vộ vàng cũng theo điều nhân”.


IV.6

Tử viết: “Ngã vị kiến hiếu nhân giả, ố bất nhân giả. Hiếu nhân giả, vô dĩ thƣợng chi; ố bất nhân giả, kì vi nhân hĩ, bất sử bất nhân giả gia hồ kì thân. Hữu năng nhất nhật dụng kì lục ƣ nhân hồ? Ngã vị kiến lực bất túc giả. Cái hữu chi hĩ, ngã vị chi kiến dã”.

Dịch. – Khổng tử nói: “Ta chưa thấy ai thật ham điều nhân và ai thật ghét điều bất nhân, Người thật ham điều nhân thì không cho điều gì hơn điều nhân; người thật ghét điều bất nhân thì khi làm điều nhân không để cho điều bất nhân vướng vào mình. Có ai trọn ngày tận lực làm điều nhân chăng? Ta chưa thấy ai không đủ sức làm điều nhân cả. Hoặc có chăng mà ta chưa thấy”.


IV.7

Tử viết: “Nhân chi quá dã, các ƣ kì đảng. Quan quá, tƣ tri nhân hĩ”.

Dịch. – Khổng tử nói: “Lỗi của một người thuộc về từng loại. Xét một người phạm những lỗi nào, có thể biết người đó có đức nhân hay không”. Chú thích. – Thí dụ: ngƣời có đức nhân, thƣờng mắc lỗi quá hậu, quá thƣơng ngƣời; ngƣời thiếu đức nhân thƣờng ngƣợc lại, quá bạc, quá tàn nhẫn. Có ngƣời cho rằng chữ nhân [仁] trong “tƣ tri nhân hĩ” nên sửa là [人] (ngƣời) và giảng là: “biết đƣợc hạng ngƣời nào”, nhƣ vậy dễ hiểu hơn, nhƣng ý nghĩa tầm thƣờng.


IV.8

Tử viết: “Triêu văn đạo, tịch tử khả hĩ”.

Dịch. – Khổng tử nói: “Sáng được nghe đạo lí, tối chết cũng được (không hận)”.


IV.9

Tử viết: “Sĩ chí ƣ đạo nhi sỉ ác y ác thực giả, vị túc dữ nghị dã”.

Dịch. – Khổng tử nói: “Người nào để chí vào đạo mà thẹn vì cái ăn cái mặc thì chưa thể đem đạo bàn được”.


IV.10

Tử viết: “Quân tử chi ƣ thiên hạ dã, vô thích (có sách đọc là địch) dã, vô mạc dã, nghĩa chi dữ tỉ”.

Dịch. – Khổng tử nói: “Cách xử sự của người quân tử không nhất định phải như vầy mới được, không nhất định như kia là không được, cứ hợp nghĩa thì làm”. Chú thích. – Thái độ đó là vô khả, vô bất khả. IV.11

Tử viết: “Quân tử hoài đức, tiểu nhân hoài thổ, quân tử hoài hình, tiểu nhân hoài huệ”.

Dịch. – Khổng tử nói: “Người quân tử nghĩ làm sao cho đạo đức tăng tiến, kẻ tiểu nhân nghĩ làm sao cho đời sống được yên ổn; người quân tử nghĩ làm sao khỏi trái với phép nước, kẻ tiểu nhân nghĩ làm sao được ân huệ người khác”.


IV.12

Tử viết: “Phóng ƣ lợi nhi hành, đa oán”.

Dịch. – Khổng tử nói: “Hàng động mà theo lợi thì gây nhiều oán” (Người oán mình mà mình cũng oán người).


IV.13

Tử viết: “Năng dĩ lễ nhƣợng vi quốc hồ hà hữu? Bất năng dĩ lễ nhƣợng vi quốc, nhƣ lễ hà?”.

Dịch. – Khổng tử nói: “Biết dùng lễ nhượng trị nước thì có khó gì đâu? Nếu không dùng lễ nhượng trị nước thì dù có lễ chế tốt cũng như không?”.


IV.14

Tử viết: “Bất hoạn vô vị, hoạn sở dĩ lập. Bất hoạn mạc kỉ tri, cầu vi khả tri dã”.

Dịch. – Khổng tử nói: “Đừng lo không có chức vị, chỉ lo không đủ tài đức để nhận chức vị. Đừng lo không ai biết mình, chỉ mong sao mình có tài đức để cho người ta biết đến”.


IV.15

Tử viết: “Sâm hồ! Ngô đạo nhất dĩ quán chi”. Tăng tử viết: “Duy”. Tử xuất, môn nhân vấn viết: “Hà vị dã?” Tăng tử viết: “Phu tử chi đạo, trung thứ nhi dĩ hĩ”.

Dịch. – Khổng tử nói: “Sâm này! Đạo của ta chỉ có một lẽ mà thông suốt cả”. Tăng tử thưa: “Dạ”. Khổng tử ra rồi, các môn sinh khác hỏi Tăng tử: “Thầy muốn nói gì vậy?” Tăng tử đáp: “Đạo của thầy chỉ có trung, thứ mà thôi”.


IV.16

Tử viết: “Quân tử dụ ƣ nghĩa, tiểu nhân dụ ƣ lợi”.

Dịch. – Khổng tử nói: “Người quân tử hiểu rõ về nghĩa, kẻ tiểu nhân hiểu rõ về lợi”.


IV.17

Tử viết: “Kiến hiền, tƣ tề yên; kiến bất hiền nhi nội tự tỉnh dã”.

Dịch. – Khổng tử nói: “Thấy người hiền thì mong làm sao bằng người; thấy người bất hiền thì phải tự xét mình (có mắc tật của người đó không)”.


IV.18

Tử viết: “Sự phụ mẫu ki gián, kiến chí bất tòng, hựu kính bất vi; lao nhi bất oán”.

Dịch. – Khổng tử nói: “Thờ cha mẹ, nên nhỏ nhẹ khuyên can, nếu thấy cha mẹ không theo ý mình thì vẫn cung kính mà không xúc phạm cha mẹ; tuy khó nhọc, lo buồn, nhưng không được oán hận”.


IV.19

Tử viết: “Phụ mẫu tại, bất viễn du. Du tất hữu phƣơng”.

Dịch. – Khổng tử nói: “Cha mẹ còn thì con không nên đi chơi xa. Nếu đi thì phải có nơi nhất định”.


IV.20

Tử viết: “Tam niên vô cải ƣ phụ chi đạo, khả vị hiếu hĩ”. (Bài này trùng với nửa dƣới bài I.11, nên không dịch lại).


IV.21

Tử viết: “Phụ mẫu chi niên, bất khả bất tri dã: nhất tắc dĩ hỉ, nhất tắc dĩ cụ”.

Dịch. – Khổng tử nói: “Tuổi của cha mẹ, không thể không biết: một là để mừng (vì cha mẹ sống lâu), một là để lo (vì cha mẹ già yếu).


IV.22

Tử viết: “Cổ giả ngôn chi bất xuất, sỉ cung chi bất đãi dã”.

Dịch. – Khổng tử nói: “Người xưa thận trọng lời nói, sợ sẽ xấu hổ nếu nói mà làm không được”.


IV.23

Tử viết: “Dĩ ƣớc thất chi giả tiển hĩ”.

Dịch. – Khổng tử nói: “Ít có người biết tự tiết chế mà phạm lỗi”. Chú thích. – Có thể hiểu là: Ngƣời nào biết tự chế (không phóng túng) thì ít khi phạm tội.


IV.24

Tử viết: “Quân tử nột ƣ ngôn, nhi mẫn ƣ hành”.

Dịch. – Khổng tử nói: “Người quân tử chậm chạp (thận trọng) về lời nói, mà mau mắn về việc làm”.


IV.25

Tử viết: “Đức bất cô, tất hữu lân”.

Dịch. – Khổng tử nói: “Người có đức thì không cô độc, tất có người đồng đạo kết bạn với mình như ở đâu thì có láng giềng ở đó”.


IV.26

Tử Du viết: “Sự quân sác, tƣ nhục hĩ; bằng hữu sác, tƣ sơ hĩ”.

Dịch. – Tử Du nói: “Thờ vua mà can gián nhiều lần quá thì sẽ bị nhục, chơi bạn mà can gián nhiều lần quá thì bạn sẽ xa mình”.