Lịch sử 12/Bước phát triển của cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp (1951 – 1953)

From Wikiversity
Jump to navigation Jump to search

Thực dân Pháp tiếp tục đẩy mạnh chiến tranh xâm lược Đông Dương[edit]

Mỹ can thiệp sâu vào cuộc chiến tranh xâm lược Đông Dương[edit]

– Sau khi thất bại ở chiến dịch Biên Giới Thu – Đông năm 1950, thực dân Pháp lâm vào thế khó khăn, lúng túng. Vì vậy, Pháp phải dựa vào Mĩ, cầu xin viện trợ để tiếp tục chiến tranh.

– Từ tháng 5/1949, Mỹ từng bước can thiệp sâu vào chiến tranh Đông Dương.

+ Ngày 23/12/1950, ký với Pháp Hiệp định phòng thủ chung Đông Dương, viện trợ quân sự, kinh tế – tài chính cho Pháp và bù nhìn, từng bước thay Pháp ở Đông Dương.

+ Tháng 9/1951, ký với Bảo Đại “Hiệp ước hợp tác kinh tế Việt – Mỹ” nhằm ràng buộc Bảo Đại vào Mỹ.

– Viện trợ của Mỹ chiếm tỉ lệ ngày càng cao: 1950 là 52 tỉ phrăng – chiếm 19 % ngân sách; 1953 là 285 tỉ phrăng – chiếm 43 % ngân sách chiến tranh của Mĩ.

– Các phái đoàn viện trợ kinh tế, cố vấn quân sự Mỹ đến Việt Nam ngày càng nhiều. Các trung tâm, trường huấn luyện Mỹ tuyển chọn người Việt Nam sang Mỹ học.

Kế hoạch Đờ-lát đơ Tát-xi-nhi[edit]

– Ngày 6/12/1950, Đại tướng đơ Tát-xi-nhi làm Tổng chỉ huy quân đội viễn chinh, kiêm Cao uỷ Pháp ở Đông Dương, dựa vào viện trợ Mỹ, đề ra kế hoạch mới, nhanh chóng kết thúc chiến tranh.

* Kế hoạch có 4 điểm chính:

– Tập trung quân Âu – Phi xây dựng một lực lượng cơ động mạnh, phát triển nguỵ quân, xây dựng “quân đội quốc gia”.

– Xây dựng phòng tuyến công sự xi măng cốt sắt (boong ke), lập “vành đai trắng” bao quanh trung du và đồng bằng Bắc Bộ nhằm ngăn chặn chủ lực ta và kiểm soát ta đưa nhân tài, vật lực ra vùng tự do.

– Tiến hành “chiến tranh tổng lực”, bình định vùng tạm chiếm, vơ vét sức người, sức của của nhân dân ta để tăng cường lực lượng của chúng.

– Đánh phá hậu phương của ta.

=> Làm cho cuộc đấu tranh của ta ở vùng sau lưng địch trở nên khó khăn, phức tạp.

Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ hai của Đảng (2/1951)[edit]

Hoàn cảnh[edit]

– Từ năm 1947 – 1950, ta giành được nhiều thắng lợi về quân sự và ngoại giao. Tình hình trong nước và thế giới có nhiều chuyển biến mới, đòi hỏi phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng.

– Trước yêu cầu đó, từ ngày 11 đến 19/2/1951, Đại hội đại biểu toàn quốc lần II của Đảng Cộng sản Đông Dương họp ở Chiêm Hóa (Tuyên Quang).

Nội dung Đại hội[edit]

Đại hội thông qua hai bản báo cáo quan trọng:

+ Báo cáo chính trị do Hồ Chủ tịch trình bày tổng kết kinh nghiệm đấu tranh của Đảng

+ Báo cáo Bàn về cách mạng Việt Nam do Tổng Bí thư Trường Chinh trình bày, nêu rõ nhiệm vụ cơ bản của cách mạng Việt Nam là đánh đuổi đế quốc, tay sai, giành độc lập và thống nhất hoàn toàn cho dân tộc, xóa bỏ tàn tích phong kiến và nửa phong kiến, làm cho người cày có ruộng

– Đại hội quyết định tách Đảng Cộng sản Đông Dương, thành lập ở Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia mỗi nước một Đảng Mác – Lênin riêng phù hợp với từng dân tộc.

– Ở Việt Nam, quyết định thành lập Đảng Lao động Việt Nam và đưa Đảng ra hoạt động công khai.

– Đại hội thông qua Tuyên ngôn, Chính cương, Điều lệ mới; xuất bản báo Nhân dân làm cơ quan ngôn luận của Đảng.

– Bầu ra Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Bộ Chính trị do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch và Trường Chinh làm Tổng Bí thư.

=> Ý nghĩa: đánh dấu bước phát triển mới trong quá trình lãnh đạo và trưởng thành của Đảng, là “Đại hội kháng chiến thắng lợi”.

Hậu phương kháng chiến phát triển mọi mặt[edit]

Chính trị[edit]

– Từ ngày 3 đến 7/3/1951, Đại hội toàn quốc thống nhất Mặt trận Việt Minh và Hội Liên Việt thành Mặt trận Liên Việt do Tôn Đức Thắng làm Chủ tịch, Hồ Chí Minh làm Chủ tịch danh dự.

– 11/03/1951, thành lập Liên minh nhân dân Việt – Miên – Lào, tăng cường khối đoàn kết ba nước đấu tranh chống Pháp và can thiệp Mỹ.

– Ngày 01/05/1952, Đại hội anh hùng và chiến sĩ thi đua toàn quốc lần I đã chọn 7 anh hùng: Cù Chính Lan, La Văn Cầu, Nguyễn Quốc Trị, Nguyễn Thị Chiên, Ngô Gia Khảm, Trần Đại Nghĩa, Hoàng Hanh.

Kinh tế[edit]

– Nông nghiệp: năm 1952, Chính phủ vận động lao động sản xuất và tiết kiệm. Năm 1953, vùng tự do của ta đã sản xuất được 2.7 triệu tấn thóc, hơn 650.000 tấn hoa màu.

– Thủ công nghiệp và công nghiệp đáp ứng yêu cầu về công cụ sản xuất và những mặt hàng thiết yếu của đời sống. Năm 1953, ta sản xuất được 3.500 tấn vũ khí đạn dược…

– Chấn chỉnh thuế khóa, xây dựng nền tài chính, ngân hàng, thương nghiệp.

– Phát động giảm tô, cải cách ruộng đất: 5 đợt giảm tô, 1 đợt cải cách ruộng đất, tạm cấp cho nông dân 184 000 ha ruộng đất.

Văn hóa, giáo dục, y tế[edit]

– Giáo dục: Thực hiện cải cách giáo dục với 3 phương châm “phục vụ kháng chiến, phục vụ dân sinh, phục vụ sản xuất”, nhà trường gắn với xã hội, năm 1952 có trên 1 triệu học sinh phổ thông, phong trào bình dân học vụ, bổ túc văn hóa phát triển.

– Văn hóa: thực hiện “Kháng chiến hóa văn hóa, văn hóa hóa kháng chiến”.

– Y tế: Vận động phòng bệnh, đời sống mới, bài trừ mê tín dị đoan.

Những chiến dịch tiến công giữ vững quyền chủ động trên chiến trường[edit]

Các chiến dịch ở Trung Du và đồng bằng Bắc Bộ (cuối 1950 đến giữa 1951)[edit]

– Để giữ vững quyền chủ động chiến lược trên chiến trường chính Bắc Bộ và đẩy địch lùi sâu vào thế bị động đối phó, trong thời gian cuối năm 1950 đến giữa năm 1951, quân ta liên tục 3 chiến dịch:

+ Chiến dịch Trần Hưng Đạo (chiến dịch Trung du) – từ ngày 25/12/1950 đến ngày 17/1/1951: Ta đánh vào Phúc Yên, Vĩnh Yên nhằm tiêu diệt sinh lực địch, phá vỡ kế hoạch củng cố vùng chiếm đóng của chúng, loại khỏi vòng chiến đấu 5000 tên.

+ Chiến dịch Hoàng Hoa Thám (chiến dịch Đường số 18) – từ ngày 29/3 đến ngày 5/4/1951: Ta tiến công địch ở phòng tuyến Đường số 18, từ Phả Lại đến Uông Bí, Mạo Khê, loại khỏi vòng chiến đấu hơn 2 900 địch, phá hủy và bức rút 130 vị trí và tháp canh.

+ Chiến dịch Quang Trung (chiến dịch Hà – Nam – Ninh) – từ ngày 28/5 đến ngày 20/6/1951: Ta tiến công địch ở Hà Nam, Nam Định và Ninh Bình, loại khỏi vòng chiến đấu hơn 4000 địch, thu nhiều vũ khí và phương tiện chiến tranh.

* Đây là những chiến dịch tiến công có quy mô lớn của quân ta đánh vào phòng tuyến kiên cố của địch ở trung du và đồng bằng, đã loại khỏi vòng chiến đấu nhiều sinh lực địch, phá vỡ từng mảng kế hoạch bình định của chúng. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân và do lựa chọn địa bàn 3 chiến dịch chưa phù hợp với khả năng tác chiến của bộ đội ta, nên kết quả chiến đấu bị hạn chế.

Chiến dịch Hòa Bình đông – xuân từ ngày 10/12/1951 đến ngày 25/2/1952[edit]

– Hòa Bình là cửa ngõ nối liền vùng tự do với vùng đồng bằng Bắc Bộ, mạch máu giao thông giữa Việt Bắc với Liên khu IV. Ngày 09/11/1951, Đơ Lát đơ Tátxinhi tiến đánh Hòa Bình

– Nhằm tiêu diệt sinh lực địch, phá kế hoạch bình định của chúng và đẩy mạnh phong trào du kích, ta mở chiến dịch phản công ở Hòa Bình.

– Kết quả: Ta giải phóng khu vực Hòa Bình – sông Đà rộng 2000 km² với 15 vạn dân, căn cứ du kích mở rộng.

– Ý nghĩa: Là thắng lợi của nghệ thuật chỉ đạo chiến đấu phối hợp giữa chiến trường chính với chiến trường cả nước.

Chiến dịch Tây Bắc thu – đông, từ ngày 14/10/1952 đến ngày 10/12/1952[edit]

– Tây Bắc là vùng chiến lược quan trọng, địch đã chiếm đóng, từ đó uy hiếp căn cứ Việt Bắc và che chở cho căn cứ Thượng Lào của chúng.

– Từ ngày 14/10/1952 đến ngày 10/12/1952, ta tiến công Mộc Châu, Thuận Châu, Lai Châu, Sơn La, Yên Bái, loại khỏi vòng chiến đấu hơn 13.000 địch, giải phóng toàn tỉnh Nghĩa Lộ, gần hết tỉnh Sơn La, 4 huyện ở Lai Châu, hai huyện ở Yên Bái; phá âm mưu lập “xứ Thái tự trị” của địch.

Chiến dịch Thượng Lào – từ ngày 8/4/ 1953 đến ngày 18/ 5/1953[edit]

– Đầu 1953, ta cùng Lào mở chiến dịch Thượng Lào nhằm tiêu diệt sinh lực địch, giải phóng đất đai, đẩy mạnh kháng chiến ở Lào.

– Kết quả: giải phóng toàn tỉnh Sầm Nưa, một phần tỉnh Xiêng Khoảng và tỉnh Phong Xa-lì với trên 30 vạn dân.

– Phối hợp với chiến trường chính Bắc Bộ, từ 1951 đến 1953 ở Trung và Nam Bộ ta đã tận dụng chiến tranh du kích, tiêu hao sinh lực địch, phá hủy cơ sở kinh tế của chúng.

Tham khảo[edit]

  • SGK Lịch sử 12 – Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, 2020.