Lịch sử 12/Nhân dân hai miền trực tiếp chiến đấu chống đế quốc Mĩ xâm lược. Nhân dân miền Bắc vừa chiến đấu vừa sản xuất (1965 – 1973)

From Wikiversity
Jump to navigation Jump to search

Miền Nam chiến đấu chống "Chiến tranh cục bộ" của Mĩ (1965 – 1968)[edit]

Chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của Mĩ ở miền Nam[edit]

Âm mưu của Mĩ

– Giữa 1965, trước nguy cơ chiến lược “chiến tranh đặc biệt” bị phá sản, Mỹ phải chuyển sang chiến lược “chiến tranh cục bộ” ở miền Nam và mở rộng phá hoại ra miền Bắc.

– Đây là hình thức chiến tranh xâm lược thực dân kiểu mới, được tiến hành bằng lực lượng viễn chinh Mỹ là chủ yếu cùng quân đồng minh và quân đội Sài Gòn với các phương tiện chiến tranh hiện đại. Quân số lúc cao nhất (1969) lên đến 1,5 triệu tên (Mỹ hơn 0,5 triệu).

– Mục tiêu: cố gắng giành lại thế chủ động trên chiến trường, đẩy lực lượng vũ trang của ta về thế phòng ngự buộc ta phải phân tán đánh nhỏ hoặc rút lui về biên giới.

Thủ đoạn

– Dựa vào ưu thế quân sự với quân số đông, vũ khí hiện đại, Mỹ mở ngay cuộc hành quân tìm diệt vào căn cứ Vạn Tường tháng 8/1965.

– Mở các cuộc phản công chiến lược trong mùa khô 1965 – 1966, 1966 – 1967 bằng hàng loạt các cuộc hành quân tìm diệt và bình định.

– Tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc lần thứ nhất nhằm ngăn chặn sự chi viện từ miền Bắc và quốc tế vào miền Nam.

Quân dân miền Nam chiến đấu chống “Chiến tranh cục bộ”[edit]

Quân dân ta chiến đấu chống “chiến tranh cục bộ” bằng sức mạnh cả dân tộc, của tiền tuyến và hậu phương với ý chí quyết chiến quyết thắng giặc Mỹ xâm lược.

Quân sự[edit]

Trận Vạn Tường (Quãng Ngãi)

– Ngày 18/8/1965, quân Mỹ mở cuộc hành quân vào Vạn Tường (Quảng Ngãi), sau một ngày chiến đấu, quân chủ lực và nhân dân địa phương đã đẩy lùi được cuộc hành quân của địch, loại khỏi vòng chiến đấu gần 900 tên. Chiến thắng Vạn Tường chứng tỏ quân và dân miền Nam hoàn thành có khả năng đánh bại chiến lược Chiến tranh cục bộ của đế quốc Mỹ, mở đầu cho cao trào “Tìm Mỹ mà đánh, tìm ngụy mà diệt” trên khắp miền Nam.

– Kết quả: Sau 1 ngày chiến đấu, ta loại khỏi vòng chiến 900 địch, 22 xe tăng, 13 máy bay. Đập tan hoàn toàn cuộc càn quét quy mô của địch.

– Ý nghĩa:

+ Với chiến thắng này chứng tỏ lực lượng vũ trang miền Nam hoàn toàn đủ sức mạnh đương đầu và đánh bại đội quân viễn chinh của Mĩ và có khả năng đánh thắng chiến lược “Chiến tranh cục bộ” vốn là chiến lược của Mĩ hi vọng giành thắng lợi bằng sức mạnh quân sự.

+ Vạn Tường được coi là “Ấp Bắc” đối với Mỹ, mở đầu cho cao trào “tìm Mỹ mà đánh, lùng ngụy mà diệt” trên khắp miền Nam.

Cuộc tấn công trong 2 mùa khô

– Mùa khô 1965 – 1966:

+ Mỹ huy động 72 vạn quân (22 vạn Mỹ và đồng minh), mở 450 cuộc hành quân, trong đó có 5 cuộc hành quân “tìm diệt” lớn, nhắm vào hai hướng chiến lược chính: Liên khu V và Đông Nam Bộ.

+ Ta tấn công khắp nơi, giành nhiều thắng lợi, loại khỏi vòng chiến 104.000 địch (có 45 500 Mỹ và đồng minh), bắn rơi 1430 máy bay.

– Mùa khô 1966 – 1967:

+ Mỹ huy động 98 vạn quân (44 vạn Mỹ và đồng minh), mở 895 cuộc hành quân, có 3 cuộc hành quân “bình định” và “tìm diệt” lớn, đánh vào căn cứ Dương Minh Châu nhằm tiêu diệt quân chủ lực và cơ quan đầu não của ta.

+ Ta tấn công khắp nơi, đập tan cuộc hành quân “tìm diệt” và “bình định” của Mỹ, loại khỏi vòng chiến 151.000 địch (73.500 Mỹ và đồng minh), bắn rơi 1231 máy bay.

=> Với chiến thắng trong hai mùa khô làm cho gọng kìm “tìm diệt” của địch bị bẻ gãy hoàn toàn, buộc địch vào thế phòng ngự.

Chính trị[edit]

+ Khắp nơi từ thành thị đến nông thôn, nhân dân nổi dậy đấu tranh trừng trị ác ôn, phá Ấp chiến lược, đòi Mỹ rút về nước, đòi tự do dân chủ.

+ Uy tín Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam nâng cao trên trường quốc tế. Cương lĩnh của mặt trận được 41 nước, 12 tổ chức quốc tế và 5 tổ chức khu vực ủng hộ.

Ngoại giao

– Phong trào chống ách kìm kẹp của địch, phá từng mảng ấp chiến lược diễn ra mạnh mẽ ở nông thôn. Ở thành thị, công nhân, các tầng lớp nhân dân lao động, học sinh… đã đứng lên đấu tranh đòi Mỹ rút về nước, đòi tự do dân chủ.

– Từ đầu năm 1967, đấu tranh ngoại giao được nâng lên thành một mặt trận nhằm kết hợp đấu tranh quân sự và chính trị, đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ tiếp tục tiến lên.

– Uy tín của của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế.

– Cuối năm 1964, Mặt trận đã có cơ quan thường trực ở hầu hết các nước Xã hội chủ nghĩa và một số nước thuộc thế thới thứ ba, cương lĩnh của Mặt trận được 41 nước, 12 tổ chức quốc tế và 5 tổ chức khu vực lên tiếng ủng hộ.

– Sau đòn tấn công bất ngờ của cuộc tổng tiến công và nổi dậy xuân Mậu Thân năm 1968, chính quyền Giôn-xơn đã bắt đầu nói đến việc đàm phán với Việt Nam.

– Ngày 13/3/1968, cuộc đàm phán chính thức diễn ra tại Pa-ri giữa đại diện chính quyền Việt Nam dược cộng hòa đại diện chính phủ Hoa Kỳ.

Cuộc tổng tiến công và nổi dậy xuân Mậu Thân 1968[edit]

Hoàn cảnh lịch sử

– Bước vào mùa xuân năm 1968, xuất phát từ nhận định so sánh lực lượng thay đổi có lợi cho ta trong hai mùa khô, lợi dụng mâu thuẫn ở Mỹ trong năm bầu cử tổng thống 1968. Ta chủ trương tổng tiến công và nổi dậy trên toàn miền Nam trọng tâm là các đô thị.

Mục tiêu

Tiêu diệt bộ phận quan trọng quân viễn chinh Mỹ, làm sụp đổ ngụy quyền, buộc Mỹ phải tiến hành đàm phán, rút quân về quốc

Diễn biến

Diễn ra trong 3 đợt

* Đợt 1: Từ 30/1/1968 đến 25/02/1968:

– Tại Sài Gòn: Ta tấn công các vị trí đầu não của địch (Dinh Độc lập,Toà đại sứ Mỹ, Bộ tổng tham mưu Ngụy, Tổng nha cảnh sát Sài Gòn , sân bay Tân Sơn Nhất ,đài phát thanh…).

– Kết quả: Ta loại khỏi vòng chiến 147.000 địch (43000 Mỹ), phá hủy khối lượng lớn vật chất và các phương tiện chiến tranh của địch. Cuộc tổng tiến công đã đánh đòn bất ngờ khiến cho địch choáng váng.

* Đợt 2 (tháng 5, 6) và đợt 3 (tháng 8, 9): Ta gặp nhiều khó khăn và tổn thất

* Nguyên nhân: Do ta “chủ quan trong đánh giá tình hình, đề ra yêu cầu chưa sát với thực tế…, không kịp thời kiểm điểm rút kinh nghiệm để đánh giá tình hình và có chủ trương chuyển hướng kịp thời, chậm thấy những cố gắng mới của địch và khó khăn lúc đó của ta”

Ý nghĩa

– Cuộc tổng tiến công nổi dậy xuân 1968 đã tiêu diệt một lực lượng địch, giáng cho chúng những đòn nặng nề, bất ngờ, làm lung lay ý chí xâm lược của Mỹ, buộc Mỹ tuyên bố phi Mỹ hóa chiến tranh, tức là thừa nhận sự thất bại của chiến lược Chiến tranh cục bộ.

– Buộc Mỹ ngừng hoàn toàn việc ném bom bắn phá miền Bắc, chấp nhận đàm phán với ta ở Pa-ri về chấm dứt chiến tranh, mở ra bước ngoặt cho cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Miền Bắc vừa chiến đấu chống chiến tranh phá hoại lần thứ nhất của Mĩ, vừa sản xuất và nghĩa vụ hậu phương (1965 – 1968)[edit]

Mỹ tiến hành chiến tranh bằng không quân và hải quân phá hoại miền Bắc[edit]

– Ngày 5/8/1964, Mỹ dựng lên "sự kiện vịnh Bắc Bộ" cho máy bay ném bom, bắn phá một số nơi ở miền Bắc (cửa sông Gianh, Vinh – Bến Thủy).

– Ngày 7/2/1965, Mỹ ném bom thị xã Đồng Hới, đảo Cồn Cỏ,... chính thức gây ra cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân đối với miền Bắc.

* Âm mưu của Mĩ:

– Phá tiềm lực kinh tế – quốc phòng, phá công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc.

– Ngăn chặn chi viện từ bên ngoài vào miền Bắc và từ miền Bắc vào miền Nam.

– Uy hiếp tinh thần, làm lung lay quyết tâm chống Mỹ của nhân dân Việt Nam.

Miền Bắc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại, vừa sản xuất vừa làm nghĩa vụ hậu phương[edit]

Miền Bắc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại

– Chuyển mọi hoạt động sang thời chiến, quân sự hóa toàn dân, đắp công sự, đào hầm, sơ tán,... để tránh thiệt hại về người và của, tiếp tục chiến đấu và sản xuất. Hễ địch đến là đánh, ai không trực tiếp chiến đấu thì phục vụ sản xuất.

– Chú trọng : đẩy mạnh kinh tế địa phương (công – nông nghiệp, giao thông vận tải) đảm bảo phục vụ chiến tranh.

=> Với tinh thần “Không có gì quý hơn độc lập tự do”, quân dân miền Bắc thi đua chống Mỹ, đạt nhiều thành tích lớn trong chiến đấu và sản xuất. Sau hơn 4 năm (5/8/1964 – 1/11/1968), miền Bắc bắn rơi 3243 máy bay (6 B52, 3 F111), loại khỏi vòng chiến hàng ngàn phi công, bắn chìm 143 tàu chiến. Ngày 1/11/1968, Mỹ buộc phải ngưng ném bom miền Bắc.

Miền Bắc vừa sản xuất vừa làm nghĩa vụ hậu phương

* Sản xuất

– Nông nghiệp: diện tích canh tác được mở rộng, năng suất tăng, đạt “ba mục tiêu” (5 tấn thóc, 2 đầu lợn, 1 lao động/1ha/1 năm).

– Công nghiệp: năng lực sản xuất ở một số ngành được giữ vững, đáp ứng nhu cầu thiết yếu của sản xuất và đời sống.

– Giao thông vận tải: đảm bảo thường xuyên thông suốt.

* Làm nghĩa vụ hậu phương

– Miền Bắc phấn đấu “Mỗi người làm việc bằng hai”. Vì tiền tuyến kêu gọi, hậu phương sẵn sàng đáp lại: “Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”.

– Tuyến đường Hồ Chí Minh trên bộ và trên biển bắt đầu khai thông (tháng 5/1959), nối liền hậu phương với tiền tuyến. Trong 4 năm (1965 – 1968) đưa hơn 30 vạn cán bộ, bộ đội vào Nam chiến đấu và xây dựng vùng giải phóng, cùng hàng chục vạn tấn vũ khí, đạn dược, lương thực, thuốc men,…, tăng gấp 10 lần so với trước.

=> Nguồn chi viện cùng với thắng lợi trong chiến đấu và sản xuất của quân dân miền Bắc đã góp phần quyết định vào thắng lợi của quân dân ta ở miền Nam trong chiến đấu chống chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của Mỹ.

Ý nghĩa

– Đập tan âm mưu gây chiến tranh phá hoại của Mỹ, bảo vệ vững chắc chế độ xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, giữ vững sự chi viện của miền Bắc cho miền Nam.

– Cổ vũ mạnh mẽ và phối hợp chặt chẽ với cuộc chiến đấu của nhân dân miền Nam, góp phần đánh bại các chiến lược chiến tranh của đế quốc Mỹ.

– Thắng lợi của ta tạo thế mạnh trên bàn đàm phán buộc Mỹ phải ký hiệp định Pa-ri 1973.

Chiến đấu chống chiến lược "Việt Nam hóa" và "Đông dương hóa chiến tranh" của Mĩ (1969 – 1973)[edit]

Chiến lược “Việt Nam hóa” và “Đông Dương hóa” chiến tranh của Mỹ[edit]

Bối cảnh

– Từ năm 1968, do thất bại trong chiến lược Chiến tranh cục bộ và bị dư luận Mỹ phản đối nên sau khi nắm chính quyền, Ních-xơn đã đề ra chiến lược toàn cầu để “ngăn đe thực tế” và tiếp tục tiến hành chiến tranh xâm lược thực dân kiểu mới, thực hiện chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh ở miền Nam và mở rộng chiến tranh ra toàn Đông Dương với chiến lược Đông Dương hóa chiến tranh.

Âm mưu, thủ đoạn

* Âm mưu

– Việt Nam hóa chiến tranh được tiến hành bằng quân đội Sài Gòn là chủ yếu, có sự phối hợp về hỏa lực không quân, hậu cần Mỹ do cố vấn Mỹ chỉ huy.

– Mỹ tiếp tục âm mưu dùng người Việt đánh người Việt và tiến tới dùng người Đông Dương đánh người Đông Dương.

* Thủ đoạn

– Quân đội Sài Gòn được sử dụng như lực lượng xung kích để mở rộng xâm lược Campuchia năm 1970, tăng cường chiến tranh xâm lược năm 1971, chia rẽ khối đoàn kết và sức mạnh của ta.

– Mỹ tìm cách thỏa hiệp với Trung Quốc, hòa hoãn với Liên Xô nhằm hạn chế sự giúp đỡ của các nước này đối với cuộc kháng chiến của ta.

Nhân dân miền Nam chiến đấu chống chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” và “Đông Dương hóa chiến tranh” của Mỹ[edit]

– Chiến đấu chống “Việt Nam hóa chiến tranh” là chống lại cuộc chiến tranh toàn diện được tăng cường và mở rộng ra toàn Đông Dương. Ta vừa chiến đấu trên chiến trường vừa đấu tranh trên bàn đàm phán với địch.

Trên mặt trận quân sự

– Từ tháng 4 đến tháng 6/1970, quân đội Việt Nam phối hợp với quân và dân Campuchia đập tan cuộc hành quân xâm lược Campuchia của quân đội Mỹ và Sài Gòn, loại khỏi vòng chiến đấu 17 nghìn tên địch, giải phóng nhiều vùng đất đai rộng lớn.

– Tháng 2 và tháng 3 năm 1971, bộ đội ta phối hợp với quân và dân Lào đập tan cuộc hành quân Lam Sơn 719, loại khỏi vòng chiến đấu 2000 tên địch, giữ vững hành lang chiến lược Đông Dương.

– Cuộc tiến công chiến lược 1972: ngày 30/3/1972, ta mở cuộc tiến công chiến lược đánh vào Quảng Trị, lấy Quảng Trị làm hướng tiến công chủ yếu rồi phát triển rộng khắp chiến trường miền Nam

– Kết quả: ta đã chục thủng được 3 phòng tuyến mạnh nhất của địch ở Quảng Trị, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ.

– Ý nghĩa: cuộc tiến công đã giáng một đòn nặng nề vào chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh, buộc Mỹ phải tuyên bố Mỹ hóa trở lại chiến tranh xâm lược, thừa nhận sự thất bại chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh.

Trên mặt trận ngoại giao

Ngày 6/6/1969: chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam được thành lập, vừa ra đời được 23 nước công nhận,21 nước đặt quan hệ ngoại giao.

– Trong hai ngày 24 đến 25/4/1970, hội nghị cấp cao 3 nước Đông Dương tại Hà Nội biểu thị quyết tâm chống Mỹ của 3 nước Việt Nam, Lào, Campuchia.

– Ở khắp các thành thị, phong trào các tầng lớp nhân dân liên tục nổ ra đặc biệt là phong trào học sinh, sinh viên,…

– Tại các vùng nông thôn phong trào quần chúng nổi dậy chống bình định phá ấp chiến lược đều diễn ra sôi nổi. Năm 1961, cách mạng kiểm soát thêm 3600 ấp với gần 3 triệu dân.

– 13/5/1968 cuộc đàm phán giữa Việt Nam và Hoa kỳ diễn ra ở Pa-ri.

– 25/1/1969, phát triển thành cuộc đàm phán giữa 4 bên

– 27/1/1973 Hiệp định Pa-ri về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết. Với hiệp định này, Mỹ đã buộc phải công nhận các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân miền Nam, rút hết quân về nước, tạo điều kiện để nhân dân ta tiến lên giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Cuộc Tiến công chiến lược 1972[edit]

– Ngày 30/3/1972: Ta bất ngờ mở cuộc tiến công chiến lược, đánh vào Quảng Trị, lấy Quảng Trị làm hướng tấn công chủ yếu, rồi phát triển rộng khắp miền Nam, diệt 20 vạn quân Sài Gòn, giải phóng vùng đất đai rộng lớn.

– Sau đó, địch phản công mạnh, gây cho ta nhiều thiệt hại. Mỹ tiến hành trở lại chiến tranh phá hoại miền Bắc từ ngày 6/4/1972.

Ý nghĩa[edit]

– Giáng đòn mạnh vào chiến lược “Việt Nam hóa” chiến tranh.

– Buộc Mỹ phải tuyên bố “Mỹ hóa” trở lại cuộc chiến tranh (tức thừa nhận sự thất bại của chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”).

Miền Bắc khôi phục và phát triển kinh tế – xã hội, chiến đấu chống chiến tranh phá hoại lần thứ hai của Mĩ và làm nghĩa vụ hậu phương (1969 – 1973)[edit]

Miền Bắc khôi phục và phát triển kinh tế – xã hội[edit]

Miền Bắc vừa chiến đấu chống chiến tranh phá hoại, vừa sản xuất[edit]

* Âm mưu của Mĩ:

– Nhằm phá hoại tiềm lực kinh tế quốc phòng và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc:

– Ngăn chặn nguồn chi viện từ bên ngoài vào miền Bắc và từ miền Bắc vào miền Nam.

– Uy hiếp tinh thần, làm lung lay ý chí chống Mỹ của nhân dân 2 miền.

– Cứu vãn sự thất bại của chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”

* Thủ đoạn, hành động

– Dùng không quân và hải quân ném bom phá hoại các mục tiêu quân sự, đầu mối giao thông, nhà máy xí nghiệp,…

– Máy bay và tàu chiến Mĩ bắn phá liên tục, mọi lúc, mọi nơi, mọi điều kiện thời tiết, ngày cũng như đêm.

=> Chiến tranh phá hoại lần 2 vượt xa cuộc chiến tranh phá hoại lần 1 cả về quy mô, tốc độ, cường độ bắn phá. Vì vậy, nó gây nên những thiệt hại cả về người và của, khiến cho cả thế giới phải lên án vì hành động này.

* Miền Bắc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại lần thứ 2 của Mĩ

– Ngày 6/6/1972, Mỹ cho máy bay ném bom bắn phá một số nơi thuộc khu IV cũ.

– Ngày 16/4, Ních-xơn chính thức tiến hành cuộc chiến tranh bằng không quân và hải quân phá hoạt miền Bắc lần hai.

– Đến ngày 9/5, tuyên bố phong toả cảng Hải Phòng cùng các cửa sông, luồng lạch, vùng biển miền Bắc.

– Nhờ chuẩn bị trước và với tư thế luôn luôn sẵn sàng chiến đấu, miền Bắc đã chủ động, kịp thời chống trả địch ngay từ đầu trận. Các hoạt động xây dựng ở miền Bắc vẫn không bị ngừng trệ…

– Ngày 14/2/1972, Ních-xơn phê chuẩn kế hoạch mở cuộc tập kích chiến lược đường không bằng máy bay B52 vào Hà Nội và Hải Phòng, bắt đầu từ tối ngày 18 đến 29/12/1972.

– Quân dân ta ở miền Bắc đã đánh trả không quân Mỹ những đòn đích đáng, bắn rơi 81 máy bay, bắt sống 43 phi công Mỹ, tập tan cuộc tập kích đường không bằng máy bay B52 của chúng. Thắng lợi này được coi như trận “Điện Biên Phủ trên không”.

– Kết quả: Trong cuộc chiến tranh phá hoạt lần thứ hai (từ 6/4 đến 15/1/1973), miền Bắc bắn rơi 735 máy bay Mỹ, bắn chìm 125 tàu chiến, loại khỏi vòng chiến đấu hàng trăm phi công Mĩ.

– “Điện Biên Phủ trên không” là trận thắng quyết định của ta, đã buộc Mỹ phải tuyên bố ngừng hẳn các hoạt động chống phá miền Bắc (15/1/1973) và kí Hiệp định Pari (27/1/1973).

Miền Bắc thực hiện nghĩa vụ hậu phương lớn[edit]

– Từ năm 1969 – 1971, hàng vạn thanh niên miền Bắc được gọi nhập ngũ, trong đó 60% lên đường vào chiến trường miền Nam, Lào và Campuchia. Sự chi viện của miền Bắc trong giai đoạn này tăng gấp 1,6 lần so với 3 năm trước đó.

– Những thành tựu của nhân dân miền Bắc trong việc thực hiện nhiệm vụ khôi phục và phát triển kinh tế – xã hội từ năm 1969 – 1973 đã tạo niềm tin, cơ sở vững chắc cho cuộc kháng chiến chống Mĩ, cứu nước của nhân dân Việt Nam đi đến thắng lợi.

Hiệp định Pari về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam[edit]

Hoàn cảnh lịch sử[edit]

– Năm 1968, sau Mậu Thân 1968 và thắng lợi của ta trong chiến tranh phá hoại II, Mỹ phải thương lượng với ta từ 13/5/1968

– Sau nhiều cuộc tiếp xúc, lập trường hai bên quá xa nhau: Việt Nam đòi Mỹ và đồng minh rút quân, tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản và quyền tự quyết của nhân dân Việt Nam. Ngược lại, Mỹ đòi miền Bắc rút quân và từ chối ký dự thảo Hiệp định dù đã thỏa thuận (10/1972)

– Tháng 12/1972, Mỹ mở cuộc tập kích bằng máy bay chiến lược B52 vào Hà Nội và Hải Phòng trong 12 ngày đêm. Việt Nam đập tan cuộc tập kích bằng không quân của Mỹ, làm nên trận “Điện Biên Phủ trên không”, buộc Mỹ phải trở lại ký Hiệp định Pari.

– Ngày 27/1/1973, Hiệp định Pari về chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam được ký kết.

Nội dung cơ bản của Hiệp định Pari[edit]

– Hoa Kỳ và các nước cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam.

– Hai bên ngừng bắn ở miền Nam lúc 24 giờ ngày 27/01/1973 và Hoa Kì cam kết chấm dứt mọi hoạt động chống phá miền Bắc Việt Nam.

– Hoa Kỳ rút hết quân đội của mình và quân đồng minh trong vòng 60 ngày kể từ khi kí hiệp định, huỷ bỏ các căn cứ quân sự Mỹ, cam kết không tiếp tục can thiệp vào nội bộ của miền Nam Việt Nam.

– Nhân dân miền Nam tự quyết định tương lai chính trị thông qua tổng tuyển cử tự do, không có sự can thiệp của nước ngoài.

– Hai bên ngừng bắn, trao trả cho nhau tù binh và dân thường bị bắt.

– Các bên công nhận thực tế miền Nam Việt Nam có 2 chính quyền, 2 quân đội, 2 vùng kiểm soát và 3 lực lượng chính trị (lực lượng cách mạng, lực lượng hoà bình trung lập và lực lượng chính quyền Sài Gòn).

– Hoa Kỳ cam kết góp phần vào việc hàn gắn vết thương chiến tranh ở Việt Nam và Đông Dương, tiến tới thiết lập quan hệ mới, bình đẳng và cùng có lợi giữa hai nước.

Ý nghĩa lịch sử[edit]

– Hiệp định Pari về Việt Nam là thắng lợi của sự kết hợp giữa đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị và đấu tranh ngoại giao, là kết quả của cuộc đấu tranh kiên cường, bất khuất của quân dân ta ở hai miền đất nước, mở ra bước ngoặt mới của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc.

– Với hiệp định Pari, Mỹ phải công nhận các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân ta, phải rút quân về nước. Đó là thắng lợi lịch sử quan trọng tạo ra thời cơ thuận lợi để nhân dân ta tiến lên giải phóng hoàn toàn miền Nam.

Tham khảo[edit]

  • SGK Lịch sử 12 – Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, 2020.