Lịch sử 12/Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đấu tranh chống đế quốc Mĩ và chính quyền Sài Gòn ở miền Nam (1954 – 1965)

From Wikiversity
Jump to navigation Jump to search

Tình hình và nhiệm vụ cách mạng nước ta sau Hiệp định Giơ-ne-vơ[edit]

Tình hình Việt Nam sau hiệp định Giơnevơ[edit]

a. Miền Bắc

– Ngày 16/5/1955, toán lính Pháp cuối cùng rút khỏi đảo Cát Bà, miền Bắc hoàn toàn giải phóng.

– Tháng 5/1956, quân Pháp rút khỏi miền Nam khi chưa thực hiện hiệp thương tổng tuyển cử thống nhất hai miền.

– Ở miền Nam, Mỹ thay chân Pháp đưa Ngô Đình Diệm lên nắm chính quyền âm mưu chia cắt lâu dài đất nước ta, biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự tại Đông Nam Á.

=> Đặc điểm nước ta: Đất nước bị chia cắt làm 2 miền với 2 chế độ chính trị xã hội khác nhau: Miền Bắc hoàn toàn giải phóng, miền Nam thành thuộc địa kiểu mới của đế quốc Mỹ.

Nhiệm vụ chiến lược của hai miền Nam Bắc sau 1954  [edit]

– Miền Bắc phải nhanh chóng hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục kinh tế, tiến lên CNXH để trở thành hậu phương vững chắc cho cách mạng miền Nam đánhh Mĩ.

– Miền Nam tiếp tục cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.

– Mối quan hệ của cách mạng hai miền Nam – Bắc: Miền Bắc là hậu phương lớn có vai trò quyết định nhất đối với sự phát triển cách mạng cả nước, miền Nam là tiền tuyến lớn có vai trò quyết định trực tiếp đến sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Cách mạng hai miền có quan hệ gắn bó với nhau, tác động qua lại và thúc đẩy lẫn nhau, tạo điều kiện cho nhau phát triển. Thắng lợi giành được ở mỗi miền là thắng lợi chung của cách mạng hai miền.

Vai trò, vị trí cách mạng từng miền[edit]

– Cách mạng chủ nghĩa xã hội miền Bắc có vai trò quyết định đối với sự phát triển cách mạng cả nước.

– Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam đóng vai trò quyết định trực tiếp đối với sự nghiệp giải phóng miền Nam thống nhất đất nước.

– Cách mạng hai miền có quan hệ mật thiết gắn bó tác động lẫn nhau, nhằm hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước.

Miền Bắc hoàn thành cải cách ruộng đất, khôi phục kinh tế, cải tạo quan hệ sản xuất (1954 – 1960)[edit]

Hoàn thành cải cách ruộng đất, khôi phục kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh (1954 – 1957)[edit]

a. Hoàn thành cải cách ruộng đất

– Diễn biến: từ năm 1954 – 1956, ta tiếp tục thực hiện 6 đợt giảm tô và 4 đợt cải cách ruộng đất ở 22 tỉnh đồng bằng và trung du, mặc dù có nhiều sai lầm trong việc đấu tố tràn lan thô bạo, đấu tố cả những địa chủ kháng chiến nhưng ta đã kịp thời sửa sai trong năm 1957.

– Kết quả: có 81 vạn ha ruộng đất, 10 vạn trâu bò, 1,8 triệu nông cụ được chia cho 2 triệu hộ nông dân, khẩu hiệu người cày có ruộng đã trở thành hiện thực.

– Ý nghĩa: Cải cách ruộng đất ở miền Bắc đã căn bản hoàn thành, giai cấp địa chủ đã căn bản bị đánh đổ, nông dân đã trở thành người làm chủ ở nông thôn.

+ Sức sản xuất ở nông thôn được giải phóng, đời sống nhân dân bước đầu được cải thiện tạo điều kiện cho sự phát triển của công thương nghiệp, góp phần quan trọng vào công cuộc củng cố miền Bắc.

+ Sau cải cách, bộ mặt nông thôn miền Bắc có nhiều thay đổi, khối liên minh công nông được nhiều củng cố.

b. Khôi phục kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh (đọc thêm)

– Nông nghiệp: nông dân khai khẩn ruộng đất hoang, tăng thêm đàn trâu bò, sắm thêm nông cụ. Năm 1957, sản lượng lương thực đạt trên 4 triệu tấn, nạn đói kinh niên ở miền Bắc căn bản được giải quyết.

– Công nghiệp: khôi phục, mở rộng và xây dựng nhiều nhà máy, xí nghiệp mới. Cuối năm 1957, có 97 nhà máy, xí nghiệp lớn do nhà nước quản lý.

– Thủ công nghiệp, thương nghiệp: nhanh chóng khôi phục, đảm bảo cung cấp các mặt hàng thiết yếu cho nhân dân.

– Giao thông vận tải: khôi phục 700 km đường sắt, sửa chữa và làm mới hàng nghìn km đường ô tô, xây dựng bến cảng, đường hàng không dân dụng quốc tế …

– Văn hóa, giáo dục được đẩy mạnh .

– Y tế: được quan tâm xây dựng, nhiều nạn dịch phổ biến ở miền Bắc không còn.

– củng cố chính quyền dân chủ nhân dân, tăng cường khả năng phòng thủ đất nước, mở rộng Mặt trận dân tộc thống nhất và quan hệ ngoại giao với nhiều nước trên thế giới.

Cải tạo quan hệ sản xuất, bước đầu phát triển kinh tế – xã hội (1958 – 1960) (đọc thêm)[edit]

Cải tạo quan hệ sản xuất

– 1958 – 1960: miền Bắc đã cải tạo quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa đối với nông nghiệp, thủ công nghiệp, công thương nghiệp tư bản tư doanh…

+ Trong phong trào vận động xây dựng hợp tác xã, cuối 1960, miền Bắc có trên 85 % hộ nông dân với 70 % ruộng đất vào hợp tác xã nông nghiệp

– Đối với tư sản dân tộc : ta cải tạo bằng phương pháp hòa bình, cuối 1960 có hơn 95 % hộ tư sản vào công tư hợp doanh .

Kết quả: Đã xóa bỏ cơ bản chế độ người bóc lột người, thúc đẩy sản xuất phát triển.

Xây dựng và phát triển kinh tế, xã hội

– Kinh tế: trọng tâm là phát triển kinh tế quốc doanh. Năm 1960 có 172 xí nghiệp lớn do trung ương quản lý và 500 xí nghiệp do địa phương quản lý.

– Văn hóa, giáo dục, y tế: phát triển. Năm 1960 số học sinh tăng 80 % so với 1957, cơ sở y tế tăng 11 lần so với 1955.

Miền Nam đấu tranh chống chế độ Mĩ – Diệm, giữ gìn và phát triển lực lượng cách mạng tiến tới đồng khởi[edit]

Đấu tranh chống chế độ Mĩ – Diệm, giữ gìn và phát triển lực lượng cách mạng (1954 – 1959)[edit]

– Từ giữa năm 1954, cách mạng miền Nam chuyển từ đấu tranh vũ trang sang đấu tranh chính trị, đòi thi hành Hiệp định Giơnevơ, đòi hiệp thương tổng tuyển cử thống nhất đất nước, đòi các quyền tự do, dân sinh, dân chủ; chống “tố cộng, diệt cộng”, “trưng cầu dân ý”....

– Mở đầu và tiêu biểu nhất là “Phong trào hòa bình” của trí thức và nhân dân Sài Gòn – Chợ Lớn (tháng 8/1954)

– Phong trào bị khủng bố, đàn áp nhưng vẫn dâng cao, lan rộng khắp thành thị và nông thôn, lôi cuốn mọi tầng lớp nhân dân tham gia, hình thành mặt trận chống Mỹ – Diệm.

– Từ đấu tranh hòa bình, phong trào chuyển dần sang dùng bạo lực, tiến hành đấu tranh chính trị kết hợp với đấu tranh vũ trang, chuẩn bị cho cao trào cách mạng mới.

Phong trào Đồng Khởi (1959 – 1960)[edit]

a. Hoàn cảnh lịch sử

– Từ sau khi hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, nhân dân miền Nam chuyển từ đấu tranh vũ trang ở thời kỳ chống Pháp sang đấu tranh chính trị đòi thi hành hiệp định, từ đấu tranh chính trị phát triển lên đấu tranh chính trị có tự vệ chống những chính sách tàn bạo của kẻ thù. Thông qua thực tiễn đấu tranh, lực lượng chính trị được bảo tồn và phát triển. Lực lượng vũ trang và căn cứ địa được xây dựng lại ở nhiều nơi, đó là điều kiện để tiếp tục đưa cách mạng tiến lên.

– Trong những năm 1957 – 1959, cách mạng miền Nam gặp muôn vào khó khăn, chính quyền Ngô Đình Diệm thực hiện chiến dịch “Tố cộng – diệt cộng” và ban hành luật 10/59 giết hại hàng chục vạn đồng bào yêu nước. Những chính sách khủng bố làm cho mâu thuẫn giữa mọi tầng lớp nhân dân miền Nam với kẻ thù ngày càng gay gắt. Cuộc đấu tranh của nhân dân tan đòi hỏi phải có biện pháp quyết liệt đưa cách mạng vượt qua khó khăn.

– Tháng 1/1959, Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã quyết định để nhân dân miền Nam sử dụng bạo lực đánh đổ chính quyền Mỹ – Diệm chuyển cách mạng miền Nam sang đấu tranh vũ trang.

b. Nguyên nhân

– Từ năm 1957 – 1959: chính quyền Ngô Đình Diệm ban hành chính sách “tố cộng, diệt cộng”, ra đạo luật 10/59 đặt cộng sản ra ngoài vòng pháp luật, lê máy chém khắp miền Nam, làm cho mâu thuẫn giữa nhân dân miền Nam với đế quốc Mĩ xâm lược và tay sai phát triển gay gắt, lượng cách mạng bị tổn thất nặng, đòi hỏi phải có biện pháp quyết liệt để đưa cách mạng vượt qua khó khăn.

– Lực lượng cách mạng ở miền Nam được giữ gìn và phát triển qua thực tiễn đấu tranh chính trị, hoà bình, đòi thi hành Hiệp định Giơnevơ, tiến lên dùng bạo lực, kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, chuẩn bị cho sự bùng nổ phong trào cách mạng mới.

– Tháng 1/1959, Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ XV quyết định để nhân dân miền Nam sử dụng bạo lực cách mạng để đánh đổ chính quyền Mĩ – Diệm.

c. Diễn biến

– Lúc đầu phong trào nổ ra lẻ tẻ ở từng địa phương như Vĩnh Thạnh, Bác Ái (2/1959), Trà Bồng (8/1959)…, sau lan khắp miền Nam thành cao trào cách mạng, tiêu biểu là cuộc “Đồng khởi” ở Bến Tre.

– Ngày 17/1/1960, “Đồng khởi” nổ ra ở 3 xã Định Thuỷ, Phước Hiệp, Bình Khánh (huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre), từ đó lan khắp huyện Mỏ Cày và tỉnh Bến Tre (huyện Giồng Trôm, Ba Tri, Châu Thành…)

– Quần chúng giải tán chính quyền địch, lập Ủy ban nhân dân tự quản, lập lực lượng vũ trang, tịch thu ruộng đất của địa chủ, cường hào chia cho dân cày nghèo.

– Phong trào lan khắp Nam Bộ, Tây Nguyên và một số nơi ở Trung Trung bộ. Cuối năm 1960, ta làm chủ 600/1298 xã ở Nam Bộ, 3.200/5721 thôn ở Tây Nguyên, 904/3829 thôn ở Trung Trung bộ.

c. Ý nghĩa

– Phong trào Đồng Khởi đã giáng một đòn nặng nề vào chính sách thuộc địa kiểu mới của Mỹ, làm lung lay tận gốc chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm, chấm dứt thời kỳ ổn định tạm thời của chế độ thực dân mới của Mỹ ở miền Nam, mở ra thời kỳ khủng hoảng của chế độ Sài Gòn.

– Thắng lợi này đánh dấu bước phát triển mới của cách mạng miền Nam, chuyển từ thế giữ gìn lực lượng sang thế tấn công.

Miền Bắc bước đầu xây dựng cơ sở vật chất kĩ thuật của chủ nghĩa xã hội (1961 – 1965)[edit]

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (tháng 9/1960)[edit]

a. Hoàn cảnh lịch sử

– Năm 1960 cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, bước đầu giành thắng lợi trong cải tạo quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa.

– Cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam đã và đang giành được nhiều thắng lợi trong phong trào Đồng Khởi.

– Hoàn cảnh đó đòi hỏi Đảng ta phải tiến hành đại hội để củng cố tổ chức, sắp xếp lực lượng, đề ra đường lối cách mạng đúng đắn, phù hợp. Vì vậy, trong năm 1960 Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 3 được triệu tập.

b. Nội dung

– Đề ra nhiệm vụ chiến lược cho cách mạng cả nước và từng miền

+ Miền Bắc: cách mạng xã hội chủ nghĩa có vai trò quyết định nhất .

+ Miền Nam: Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân có vai trò quyết định trực tiếp.

+ Cách mạng hai miền có quan hệ mật thiết, gắn bó nhau nhằm hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước, thực hiện hòa bình thống nhất nước nhà.

– Thông qua kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961 – 1965) xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc.

– Bầu Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch và Lê Duẩn làm Bí thư thứ nhất.

c. Ý nghĩa

– Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 3 của Đảng là mốc đánh dấu bước phát triển trong quá trình lãnh đạo của Đảng.

– Đại hội là nguồn ánh sáng mới cho toàn Đảng, toàn dân xây dựng thắng lợi chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đấu tranh thực hiện hòa bình thống nhất đất nước.

Miền Bắc thực hiện kế hoạch Nhà nước 5 năm (1961 – 1965)[edit]

Nhiệm vụ cơ bản

– Phát triển công nghiệp, nông nghiệp, tiếp tục cải tạo củng cố tăng cường thành phần kinh tế quốc doanh.

* Thành tựu

– Trong tất cả các ngành các giới đều dấy lên phong trào thi đua sôi nổi, trong nông nghiệp có Đại Phong, công nghiệp có Duyên Hải, thủ công nghiệp có Thành Công.

– Ngành công nghiệp được ưu tiên xây dựng, từ năm 1961 – 1964 vốn đầu tư xây dựng cơ bản cho công nghiệp là 48%, trong đó công nghiệp nặng chiếm 80%, giá trị sản lượng công nghiệp nặng năm 1965 tăng gấp 3 lần năm 1960.

– Trong những năm 1961 – 1965, 100 cơ sở sản xuất mới được xây dựng, các cơ sở sản xuất đã sản xuất đươc nhiều mặt hàng phục vụ dân sinh, quốc phòng.

– Trong nông nghiệp, nhiều địa phương thực hiện chủ trương xây dựng hợp tác xã bậc cao. Nông dân bước đầu áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, hệ thống thủy nông phát triển, nhiều hợp tác xã đạt và vượt năng suất 5 tấn thóc trên 1 ha.

– Thương nghiệp quốc doanh được nhà nước ưu tiên phát triển nên đã chiếm lĩnh thị trường, góp phần phát triển kinh tế, củng cố quan hệ sản xuất mới và cải thiện đời sống nhân dân. Hệ thống giao thông được củng cố, việc đi lại trong nước và quốc tế thuận lợi, hệ thống giáo dục từ phổ thông đến đại học phát triển nhanh. Hệ thống y tế được đầu tư hơn trước.

– Miền Bắc thực hiện nghĩa vụ hậu phương đối với tiền tuyến miền Nam, trong 5 năm 1961 – 1965, 1 khối lượng lớn vũ khí đạn dược, thuốc men được chuyển vào chiến trường. Ngày càng có nhiều đơn vị vũ trang cán bộ quân sự, cán bộ các ngành được đưa vào miền Nam để tham gia chiến đấu, phục vụ chiến đấu và xây dựng vùng giải phóng.

Ý nghĩa

– Những biến đổi của miền Bắc không chỉ nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho nhân dân mà còn làm cho miền Bắc tăng thêm tiềm lực kinh tế quốc phòng, chuẩn bị những điều kiện nhằm chống lại cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ.

– Qua kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, miền Bắc trở thành hậu phương vững chắc của tiền tuyến miền Nam, sự chi viện của miền Bắc là nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng miền Nam trong cuộc đấu tranh chống Mỹ.

– Những thắng lợi đó tạo nên sức mạnh tinh thần là nguồn cổ vũ to lớn để nhân dân miền Nam đấu tranh chống Mỹ thắng lợi.

Miền Nam chiến đấu chống chiến lược "Chiến tranh đặc biệt" của Mĩ (1961 – 1965)[edit]

Chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của Mỹ ở miền Nam[edit]

a. Bối cảnh lịch sử

– Cuối 1960, sau phong trào “Đồng khởi” ở miền Nam, Mỹ đề ra và thực hiện “Chiến tranh đặc biệt” (1960 – 1965) ở miền Nam Việt Nam.

– Trong khi đó, trên thế giới, phong trào giải phóng dân tộc dâng lên mạnh mẽ đe doạ hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc. Để đối phóng lại Tổng thống Mĩ G.Kenơđi đã đề ra chiến lược toàn cầu “Phản ứng linh hoạt” và tiến hành chiến lược “Chiến tranh đặc biệt.

b. Âm mưu của Mĩ

– Chiến lược Chiến tranh đặc biệt là hình thức chiến tranh thực dân kiểu mới được tiến hành bằng quân đội tay sai dưới sự chỉ huy của cố vấn Mỹ, dựa vào vũ khí và phương tiện chiến tranh của Mỹ nhằm chống lại lực lượng cách mạng và nhân dân ta.

– Âm mưu: dùng người Việt đánh người Việt

c. Thủ đoạn

– Để thực hiện chiến lược Chiến tranh đặc biệt, Mỹ đề ra kế hoạch Stalay tay-lo, thực hiện bình định miền Nam trong vòng 18 tháng, sau đó Mỹ chuyển sang kế hoạch Giôn-xơn Mắc-na-ma-ra, bình định có trọng điểm miền Nam Việt Nam trong 2 năm 1964-1965.

– Thực hiện chiến lược Chiến tranh đặc biệt, Mỹ tăng cường viện trợ quân sự cho chính quyền Sài Gòn, tăng nhanh lực lượng quân đội Sài Gòn, quân đội Sài Gòn dưới sự chỉ huy của cố vấn Mỹ thực hiện các chiến thuật mới là trực thăng vận, thiết xa vận. Chúng tăng cường đưa cố vấn quân sự Mỹ vào miền Nam Việt Nam thành lập bộ chỉ huy quân sự ở Sài Gòn.

– Chúng tăng cường dồn dân lập ấp chiến lược nhằm đẩy lực lượng cách mạng ra khỏi các xã, ấp, tách nó ra khỏi cách mạng để thực hiện bình định. Chúng coi ấp chiến lược là xương sống của chiến lược Chiến tranh đặc biệt.

– Quân đội Sài Gòn dưới sự chỉ huy có cố vấn Mỹ đã tiến hành các cuộc hành quân tìm diệt nhằm vào lực lượng cách mạng của ta.

– Chúng còn tiến hành phá hoại miền Bắc bằng biệt kích, gián điệp và phong tỏa biên giới.

Miền Nam chiến đấu chống “Chiến tranh đặc biệt” của Mỹ[edit]

– Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam và Đảng lãnh đạo nhân dân ta kết hợp đấu tranh chính trị với đầu tranh vũ trang, nổi dậy tiến công địch trên ba vùng chiến lược (rừng núi, nông thôn đồng bằng và đô thị), bằng ba mũi tiến công (chính trị, quân sự, binh vận).

Trên mặt trận chống phá bình định: diễn ra gay go quyết liệt giữa ta và địch. Ta phá “Ấp chiến lược” đi đôi với dựng làng chiến đấu.

– Cuối năm 1962, ta kiểm soát trên nửa tổng số ấp với 70% nông dân ở miền Nam.

– Đến cuối năm 1965, “Ấp chiến lược” căn bản bị phá sản.

Đấu tranh chính trị: diễn ra mạnh mẽ khắp các đô thị lớn, nổi bật là đấu tranh của “đội quân tóc dài”, của các “tín đồ” Phật giáo,…

=> Góp phần đẩy nhanh quá trình suy sụp của chính quyền Ngô Đình Diệm.

– Ngày 1/11/1963, Mỹ giật dây cho các tướng lĩnh Sài Gòn đảo chính lật đổ Ngô Đình Diệm. Chính quyền Sài Gòn lâm vào tình trạng khủng hoảng

Mặt trận quân sự:

– Ngày 2/1/1963, quân dân ta thắng lớn ở trận Ấp Bắc (Mỹ Tho), đánh bại cuộc hành quân càn quét của 2000 Mỹ – quân đội Sài Gòn có cố vấn Mỹ chỉ huy với phương tiện chiến tranh hiện đại.

– Chiến thắng Ấp Bắc có ý nghĩa quan trọng:

+ Là đòn đầu tiên đánh vào chiến thuật “trực thăng vận” “thiết xa vận” của Mĩ.

+ Đánh sụp lòng tin của quân Sài Gòn vào vũ khí, phương tiện chiến tranh Mĩ.

+ Chứng minh quân và dân miền Nam hoàn toàn có thể đánh bại chiến lược “Chiến tranh đặc biệt “ của Mĩ.

– Đông – Xuân 1964 – 1965, ta thắng lớn ở trận Bình Giã (2/12/1964), loại 1700 tên địch khỏi vòng chiến, đánh thắng các chiến thuật “trực thăng vận” và “thiết xa vận”; chiến lược "Chiến tranh đặc biệt" bị phá sản về cơ bản.

– Sau đó, ta tiếp tục giành thắng lợi ở An Lão, Ba Gia, Đồng Xoài...

=> Làm phá sản hoàn toàn chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của Mỹ.

Ý nghĩa[edit]

– “Chiến tranh đặc biệt” với hai kế hoạch Xtalây – Taylo và Giônxơn – Mác Namara đã lên tới mức cao nhất, song cũng bị phá sản thảm hại vào cuối năm 1964 đầu năm 1965, làm thất bại âm mưu dùng người Việt đánh người Việt của Mĩ.

– Mỹ đã thất bại trong việc sử dụng miền Nam Việt Nam làm thí điểm một loại hình chiến tranh để đàn áp phong trào cách mạng trên thế giới.

– Mỹ buộc phải chuyển sang chiến lược “Chiến tranh cục bộ” (tức thừa nhận sự thất bại của chiến tranh đặc biệt).

– Chứng tỏ đường lối lãnh đạo của Đảng là đúng đắn và sự trưởng thành nhanh chóng của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam.

– Thắng lợi này đã mở rộng và phát triển toàn diện thế chiến lược tiến công của cách mạng, là cơ sở để nhân dân ta ở miền Nam tiến lên đập tan những kế hoạch chiến tranh mới của đế quốc Mỹ, giành thắng lợi hoàn toàn.

– Góp phần bảo vệ miền Bắc, làm phá sản kế hoạch tiến công ra Bắc của Mỹ – Nguỵ.

Tham khảo[edit]

  • SGK Lịch sử 12 – Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, 2020.