Lịch sử 8/Chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp và những chuyển biến về kinh tế xã hội ở Việt Nam

From Wikiversity
Jump to navigation Jump to search

Cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của thực dân Pháp 1897 – 1914[edit]

Sau khi hoàn thành cuộc bình định, Pháp khai thác thuộc địa lần thứ nhất với quy mô lớn, để bóc lột nhân dân Việt Nam, đặt cơ sở thống trị lâu dài.

Tổ chức bộ máy nhà nước của thực dân Pháp[edit]

Mục tiêu của cuộc khai thác:[edit]

  • Chia rẽ các dân tộc Đông Dương.
  • Tăng cường áp bức, kìm kẹp làm giàu cho tư bản Pháp.
  • Biến Đông Dương thành một tỉnh của Pháp..
  • Năm 1887 Pháp lập Liên Bang Đông Dương.

Việt Nam bị chia làm ba xứ[edit]

  • Bắc Kỳ là xứ nửa bảo hộ đứng đầu là Thống sứ Pháp.
  • Trung Kỳ với chế độ bảo hộ, đứng đầu là Khâm Sứ Pháp.
  • Nam Kỳ theo chế độ thuộc địa, đứng đầu là Thống đốc Pháp.
  • Mỗi xứ gồm nhiều tỉnh đứng đầu là viên quan người Pháp.
  • Dưới tỉnh là phủ, huyện, châu, dưới là làng xã do quan chức địa phương cai quản.

Nhận xét về hệ thống chính quyền của Pháp[edit]

  • Chặt chẽ, với tay xuống tận nông thôn.
  • Kết hợp giữa nhà nước thực dân và phong kiến.
  • Chia Việt Nam thành ba quốc gia riêng biệt là Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ.
  • Tất cả đều phục vụ cho lợi ích tư bản Pháp.

Chính sách kinh tế: vơ vét sức người, sức của ở Đông Dương[edit]

Nông nghiệp[edit]

  • Cướp đoạt ruộng đất của nông dân, bóc lột nông dân bằng địa tô.
  • bóc lột sức lao động của nhân dân.

Công nghiệp[edit]

  • Khai thác mỏ (than, kim loại,…) để xuất khẩu.
  • Xây dựng cơ sở sản xuất xi măng, gạch ngói, điện nước, chế biến gỗ, xay lúa,…
  • Thương nghiệp: độc chiếm thị trường Việt Nam về nguyên liệu và thu thuế.
  • Giao thông vận tải: được xây dựng để tăng cường bóc lột kinh tế và đàn áp phong trào đấu tranh của nhân dân.
  • Đặt nhiều loại thuế, bắt phu.

Nhận xét[edit]

  • Nền kinh tế Việt Nam lạc hậu, phụ thuộc.
  • Tài nguyên thiên nhiên bị khai thác triệt để.
  • Nông nghiệp giậm chân tại chỗ.
  • Công nghiệp phát triển nhỏ giọt, thiếu hẳn công nghiệp nặng.

Chính sách văn hóa, giáo dục[edit]

  • Giai đoạn đầu, duy trì nền Hán học cũ.
  • 1905 cải cách giáo dục, mở trường đào tạo người Việt phục vụ cho cai trị của Pháp.
  • Ấu học ở xã thôn học chữ Hán và chữ Quốc ngữ.
  • Tiểu học ở phủ, huyện học chữ Hán, chữ Quốc ngữ và chữ Pháp.
  • Trung học ở tỉnh học chữ Hán, chữ Quốc ngữ, chữ Pháp bắt buộc.
  • Nhận xét:
    • Hạn chế phát triển giáo dục.
    • Duy trì “văn hóa làng” theo hướng “bần cùng hóa” và “ngu dân hóa”.
    • Duy trì thói hư tật xấu.

Những chuyển biến của xã hội Việt Nam[edit]

Dưới tác động của khai thác thuộc địa xã hội Việt Nam có nhiều biến đổi:

Ở nông thôn có hai giai cấp cũ[edit]

  • Giai cấp địa chủ phong kiến làm tay sai cho Pháp, ngày càng đông.
  • Giai cấp nông dân cực khổ, làm tá điền, làm phu đồn điền, làm công nhân; có ý thức dân tộc, tham gia các cuộc đấu tranh.

Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX đô thị Việt Nam ra đời và phát triển, nên xuất hiện tầng lớp mới là tiểu tư sản thành thị, tư sản và công nhân[edit]

  • Tầng lớp tư sản: chủ hãng buôn bán nhỏ; chưa hưởng ứng các cuộc vận động cách mạng.
  • Tầng lớp tiểu tư sản thành thị: chủ xưởng thủ công nhỏ, viên chức, sinh viên; có ý thức dân tộc, tích cực tham gia các cuộc vận động cứu nước đầu thế kỷ XX.
  • Đội ngũ công nhân xuất thân từ nông dân bị bóc lột, có tinh thần đấu tranh.

Xu hướng mới trong cuộc vận động giải phóng dân tộc[edit]

  • Tư tưởng dân chủ tư sản do ảnh hưởng của cuộc Duy Tân ở Nhật Bản truyền vào Việt Nam qua sách báo của Trung Quốc.

Tham khảo[edit]

  • SGK Lịch sử 8, NXB Giáo dục Việt Nam, 2019.