Lịch sử 9/Cuộc đấu tranh bảo vệ và xây dựng chính quyền dân chủ nhân dân (1945 – 1946)

From Wikiversity
Jump to navigation Jump to search

Tình hình nước ta sau Cách mạng tháng Tám[edit]

Thuận lợi[edit]

– Nước ta đã giành độc lập, nhân dân ta vui mừng, phấn khởi.

– Đất nước đặt dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và Bác Hồ.

– Truyền thống dân tộc, tích cực xây dựng và bảo vệ chính quyền cách mạng.

– Chủ nghĩa phát xít bị tiêu diệt.

Khó khăn[edit]

– Từ vĩ tuyến 16 trở ra Bắc, 20 vạn quân Trung Hoa Dân Quốc kéo theo bọn tay sai thuộc các tổ chức phản động, hòng cướp chính quyền mà nhân dân ta đã giành được.

– Từ vĩ tuyến 16 trở vào nam, 1 vạn quân Anh kéo vào, dọn đường cho thực dân Pháp trở lại xâm lược nước ta.

– Bọn phản động trong nước ngóc đầu dậy, làm tay sai cho Pháp, chống phá cách mạng.

– Chính quyền cách mạng còn non trẻ, lực lượng vũ trang còn yếu.

– Nạn đói còn chưa khắc phục được, tiếp đó là nạn lụt lớn và tháng 8-1945 làm vỡ đê 9 tỉnh Bắc Bộ, sau đó là hạn hán kéo dài,…

– Tàn dư văn hóa lạc hậu của chế độ cũ rất nặng nề, hơn 90% dân số mù chữ.

– Ngân sách nhà nước trống rỗng, Chính quyền chưa quản lý được Ngân hàng Đông Dương.

– Ngay sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa đứng trước tình thế hiểm nghèo như “ngàn cân treo sợi tóc”.

Bước đầu xây dựng nền móng chế độ mới[edit]

– Xây dựng chính quyền cách mạng:

+ Ngày 06-1-1946, cả nước tiến hành cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội, 333 đại biểu trúng cử vào Quốc hội đầu tiên của nước ta.

+ Quốc hội họp phiên đầu tiên (3-1946), thông qua danh sách Chính phủ Liên hiệp kháng chiến do Hồ Chí Minh đứng đầu. Sau đó, Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thông qua (11-1946).

+ Sau bầu cử Quốc hội, ở khắp các địa phương thuộc Bắc Bộ và Trung Bộ đều tiến hành bầu cử Hội đồng nhân dân các cấp theo nguyên tắc phổ thông đầu phiếu.

+ Quân đội Quốc gia Việt Nam ra đời (5-1946). Lực lượng dân quân tự vệ được củng cố, phát triển.

Diệt giặc đói, giặc dốt và giải quyết khó khăn về tài chính[edit]

Giải quyết nạn đói[edit]

– Biện pháp trước mắt: quyên góp, điều hòa thóc gạo, nghiêm trị những kẻ đầu cơ tích trữ lúa gạo. Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi nhân dân cả nước “Nhường cơm sẻ áo”…

– Biện pháp lâu dài: kêu gọi “Tăng gia sản xuất”, “Tấc đất tấc vàng”, giảm tô, giảm thuế, tạm cấp ruộng đất bỏ hoang cho nông dân thiếu ruộng…

– Kết quả: Nhờ những biện pháp trên, nạn đói đã dần dần được đẩy lùi.

Giải quyết nạn dốt[edit]

– Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh thành lập Nha bình dân học vụ (9-1945), kêu gọi nhân dân cả nước tham gia phong trào xóa nạn mù chữ.

– Trường học các cấp từ phổ thông đến đại học sớm được khai giảng, nội dung và phương pháp giáo dục bước đầu được đổi mới theo tinh thần dân tộc dân chủ.

Tài chính[edit]

– Biện pháp trước mắt: kêu gọi tinh thần tự nguyện đóng góp của nhân dân xây dựng “Quỹ độc lập”, thực hiện phong trào “Tuần lễ vàng” do Chính phủ phát động.

– Kết quả: nhân dân đã tự nguyện đóng góp được 370 kg vàng và 20 triệu đồng vào “Quỹ độc lập”, 40 triệu đồng vào “Quỹ đảm phụ quốc phòng”.

– Biện pháp lâu dài: ra sắc lệnh phát hành tiền Việt Nam. Tháng 11-1946, đồng tiền Việt Nam được lưu hành.

Nhân dân Nam Bộ kháng chiến chống thực dân Pháp trở lại xâm lược[edit]

– Đêm 22 rạng sáng ngày 23-9-1945, thực dân Pháp đánh úp trụ sở Ủy ban nhân dân Nam Bộ, mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam lần thứ hai.

– Quân dân Sài Gòn – Chợ Lớn và Nam Bộ nhất tề nổi dậy chống Pháp. Những đoàn quân “Nam tiến” từ miền Bắc đi vào Nam chiến đấu; nhân dân quyên góp ủng hộ đồng bào Nam Bộ kháng chiến.

Đấu tranh chống quân Tưởng và bọn phản cách mạng[edit]

– Đấu tranh với quân Trung Hoa Dân Quốc và bọn phản động cách mạng ở miền Bắc:

+ Để tránh cùng một lúc phải đối phó với nhiều kẻ thù, Đảng và Chính phủ chủ trương nhân nhượng một số yêu sách về kinh tế, chính trị cho quân Trung Hoa Dân quốc như: tiêu tiền “Quan kim”, “Quốc tệ”, cung cấp một phần lương thực cho chúng, nhường cho các đảng Việt Quốc, Việt Cách 70 ghế trong Quốc hội không qua bầu cử và 4 ghế bộ trưởng trong Chính phủ,… để tập trung chống Pháp ở Nam Bộ.

+ Kiên quyết vạch trần âm mưu và những hành động chia rẽ, phá hoại của bọn phản động tay sai. Bọn phản động gây tội ác đề bị trừng trị theo pháp luật.

+ Ý nghĩa: Chúng ta đã hạn chế đến mức thấp nhất các hoạt động chống phá của quân Trung Hoa Dân quốc và tay sai, làm thất bại âm mưu lật đổ chính quyền cách mạng của chúng.

Hiệp định Sơ bộ (6-3-1946) và Tạm ước (14-9-1946)[edit]

Hiệp định sơ bộ (6-3-1946)[edit]

– Pháp ký với Chính phủ Trung Hoa Dân quốc Hiệp ước Hoa – Pháp (2-1946). Theo đó, Pháp được đưa quân ra miền Bắc thay quân Trung Hoa Dân quốc làm nhiệm vụ giải giáp quân Nhật.

– Hiệp ước Hoa – Pháp đặt nhân dân ta trước hai con đường phải lựa chọn: hoặc cầm súng chiến đấu không cho chúng đổ bộ lên miền Bắc; hoặc hòa hoãn, nhân nhượng Pháp để tránh đối phó cùng một lúc nhiều kẻ thù.

– Ban Thường vụ Trung ương Đảng họp, do Chủ tịch Hồ Chí Minh làm chủ trì, đã chọn giải pháp “Hòa để tiến”.

– Chiều ngày 6-3-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ký với G. Xanh-tơ-ni, đại diện Chính phủ Pháp bản Hiệp định Sơ Bộ.

– Nội dung của Hiệp định Sơ bộ:

+ Chính phủ Pháp công nhân nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một quốc gia tự do, nằm trong khối Liên hiệp Pháp, có chính phủ riêng, nghị viện riêng, quân đội riêng, tài chính riêng và là thành viên của Liên Bang Đông Dương, nằm trong khối Liên hiệp Pháp.

+ Chính phủ Việt Nam đồng ý để cho 15 000 quân Pháp được ra Bắc làm nhiệm vụ giải giáp quân Nhật, số quân này sẽ rút dần trong 5 năm.

+ Hai bên ngừng mọi cuộc xung đột ở miền Nam để tạo không khí thuận lợi đi đến cuộc đàm phán chính thức ở Pa-ri,…

– Ý nghĩa: Việc ký Hiệp định Sơ bộ, ta tránh được cuộc chiến đấu với nhiều kẻ thù cùng một lúc, đẩy được quân Trung Hoa Dân quốc về nước, có thêm thời gian để chuẩn bị lực lượng… Pháp phải thừa nhận Việt Nam là một quốc gia tự do.

Tạm ước (1- 9-1946)[edit]

– Phía Pháp ra sức phá hoại Hiệp Định (gây xung đột vũ trang ở Nam Bộ, thành lập chính phủ Nam Kỳ tự trị,…), cuộc đàm phán Việt – Pháp ở Phông-ten-nơ-blô thất bại .

– Trước tình hình đó, ta lại ký với Pháp bản Tạm ước 14-9-1946 nhượng cho Pháp 1 số quyền lợi về kinh tế và văn hóa ở Việt Nam, kéo dài thêm thời gian hòa hoãn có lợi cho ta.

=> Việc ký các Hiệp Định và Tạm ước trên chứng tỏ Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có những chủ trương sáng suốt đưa nhân dân ta vượt qua những thử thách to lớn sẵn sành bước vào cuộc chiến đấu không thể tránh khỏi.

Tham khảo[edit]

  • SGK Lịch sử 9, NXB Giáo dục Việt Nam, trang 96 – 102.