Jump to content

Qua Đèo Ngang

From Wikiversity

Tìm hiểu chung

[edit]

Tác giả

[edit]

- Bà Huyện Thanh Quan (1805 – 1848).

- Tên thật là Nguyễn Thị Hinh là một nhà lớn nổi tiếng trong thời văn học trung đại.

- Bà sinh ra tại mảnh đất Nghi Tàm, Vĩnh Thuận, Tây Hồ.

- Bà là một người phụ nữ tài giỏi nên được cử một chức quan vào cung dạy học cho những cung phi công chúa.

- Bà để lại các tác phẩm tiêu biểu như

+ Qua đèo ngang

+ Thăng Long thành hoài cổ

+ Chiều hôm nhớ nhà

+ Tức cảnh chiều thu

Tác phẩm

[edit]

- Hoàn cảnh sáng tác

+ Bài thơ được viết khi Bà Huyện Thanh Quan vào Phú Xuân - Huế nhận chức quan của mình.

+ Bài thơ này được viết vào khoảng thế kỉ XIX, khi tác giả lần đầu tiên tới Đèo Ngang.

- Thể thơ: Thất ngôn bát cú đường luật.

- Bố cục: 4 phần (Đề, thực, luận, kết)

+ Hai câu luận: bàn luận, nhận xét

+ Hai câu thực: miêu tả cụ thể cảnh và người

+ Hai câu đề: mở ý

+ 2 câu cuối: khép lại mạch ý bài thơ. Đó chính là nỗi lòng của Bà Huyện Thanh Quan.

Đọc - hiểu văn bản

[edit]

Hai câu đề

[edit]

"Bước tới đèo Ngang bóng xế tà

Cỏ cây chen đá lá chen hoa"

- Thời điểm: bóng xế tà

→ Ánh nắng nhạt của chiều muộn ⇒ Gợi nỗi buồn.

→ Gợi lên một nỗi buồn man mác.

- Cảnh: cỏ cây chen đá > < lá chen hoa

+ Điệp từ, tiểu đối

+ Điệp từ “chen”

+ Tiểu đối: Cỏ cây thì chen đá > < lá thì chen hoa.

→ Nơi đây có cây cối, có hoa lá chen chúc um tùm, hoang sơ.

⇒ Gợi lên vẻ hoang sơ, rậm rạp; không gian hoang vắng gợi nỗi buồn.

Hai câu thực

[edit]

"Lom khom dưới núi tiều vài chú

Lác đác bên sông chợ mấy nhà"

- Phép đối: Lom khom > < lác đác

→ Đối rất cân, rất chỉnh ⇒ Phác họa nên một bức tranh sơn thủy hữu tình.

- Từ láy tượng hình

+ Lom khom: Gợi dáng vẻ vất vả, nhỏ nhoi

+ Lác đác, vài: Gợi hình ảnh ít ỏi, thưa thớt.

- Đảo cấu trúc câu

+ Lom khom - tiều vài chú

+ Lác đác - chợ mấy nhà

→ Nhấn mạnh dáng vẻ nhỏ bé, tội nghiệp của con người và sự thưa thớt, xác xơ của cảnh vật.

- Đảo từ

+ Tiều vài chú

+ Chợ mấy nhà

→ Đảo từ trong cụm danh từ + từ chỉ số lượng ít ỏi (vài, mấy) ⇒ Gợi lên một thế giới cô liêu, lẻ loi, hoang vắng.

⇒ Cảnh: Sự sống ít ỏi, thưa thớt, hoang sơ.

⇒ Tình: Nỗi buồn man mát của lòng người.

Hai câu luận

[edit]

"Nhớ nước đau lòng con cuốc cuốc

Thương nhà mỏi miệng cái gia gia"

- Nghệ thuật đối

+ Nhớ nhà > < đau lòng

+ Con quốc quốc > < cái gia gia

+ Hệ thống thanh điệu cũng đối: TT BB BTT > < BB TT TBB

→ Làm nổi bật trạng thái, cảm xúc, tạo nhạc điệu cân đối cho bài thơ

- Nghệ thuật ẩn dụ: mượn tiếng chim để gợi tả lòng người

⇒ Sự hoang vắng của cảnh vật và nỗi nhớ nước, thương nhà bồn chồn của nhà thơ

Hai câu kết

[edit]

"Dừng chân đứng lại trời ,non ,nước

Một mảnh tình riêng ta với ta"

- Cảnh đèo Ngang: trời, non, nước > < Mảnh tình riêng ta với ta

+ Cảnh: bao la, bát ngát, hùng vĩ, trùng điệp → Ấn tượng mênh mông, xa lạ, vắng vẻ và tĩnh lặng

+ Tình: nhỏ nhoi, cô đơn tuyệt đối

⇒ Hình ảnh đối lập. Cảnh bao la khôn cùng, con người buồn bã, cô đơn, nhỏ bé

⇒ Gợi tâm sự sâu kín về nỗi nhớ nước, thương nhà da diết, âm thầm, lặng lẽ của con người trước cảnh vật bao la và rộng lớn..

Tổng kết

[edit]

Nghệ thuật

[edit]

- Sử dụng thể thơ Thất ngôn bát cú Đường luật điêu luyện

- Sử dụng bút pháp nghệ thuật tả cảnh ngụ tình đặc sắc.

- Bút pháp miêu tả kết hợp với biểu cảm hấp dẫn.

- Lời thơ trang nhã, điêu luyện; âm điệu trầm lắng.

- Sử dụng phép đối, từ láy trong việc tả cảnh, tả tình.

Nội dung

[edit]

Cảnh đèo Ngang thoáng đãng mà heo hút, thấp thoáng của sự sống con người nhưng còn hoang sơ.

Ý nghĩa

[edit]

- Bài thơ thể hiện nỗi nhớ nước, thương nhà, nỗi buồn cô đơn thầm lặng của tác giả.

- Nỗi niềm hoài cổ của nhà thơ trước cảnh vật Đèo Ngang.

Tham khảo

[edit]
  • SGK Ngữ văn 7 tập 1, NXB Giáo dục, 2019