Jump to content

Triết học không chuyên/3/Một số trào lưu triết học Phương Tây hiện đại

From Wikiversity

Điều kiện ra đời và nét đặc thù của triết học phương Tây hiện đại

[edit]

Vào thời kỳ hình thành chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa nhân đạo thời Phục hưng và chủ nghĩa lý tính thời cận đại thế kỷ XVII và XVIII là vũ khí tư tưởng của giai cấp tư sản mới ra đời đại diện cho phương thức sản xuất mới chống chủ nghĩa phong kiến, thần học và chủ nghĩa Kinh viện. Chủ nghĩa nhân đạo và chủ nghĩa lý tính thống nhất với nhau trong cuộc đấu tranh nhằm xác lập và phát triển chủ nghĩa tư bản. Đến giữa thế kỷ XIX, giai cấp tư sản nhiều nước Châu Âu lần lượt giành được chính quyền, triết học tư sản thời Phục hưng và Cận đại đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử của nó trong cuộc cách mạng tư sản.

Những thập kỷ cuối thế kỷ XIX, giới hạn ở các sự vật, hiện tượng thuộc các lĩnh vực quan sát, tìm hiểu trực tiếp được, có nhà khoa học cho rằng, loài người đã hoàn tất việc nghiên cứu các quy luật của giới tự nhiên. Song, những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, nhiều phát kiến khoa học ra đời, đồng thời sự hiểu biết về vũ trụ của con người được mở rộng hơn. Đi sâu vào lĩnh vực mới của thế giới vi mô (nguyên tử) và thế giới đại vĩ mô (vũ trụ) khoa học đã thu nhập được một khối lượng khổng lồ các thông tin và tri thức về giới tự nhiên. Có hai học thuyết cơ bản tiêu biểu cho tri thức mới ấy là thuyết lượng tử trong thế giới vi mô và thuyết tương đối về vũ trụ tạo thành móng dọc và móng ngang cho ngôi nhà khoa học hiện đại.

Mặt khác, cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, các nước tư bản phát triển phương Tây đã bỏ lại phía sau chủ nghĩa tư bản cổ điển để bước sang chủ nghĩa tư bản độc quyền. Giai cấp tư sản buộc phải đối phó với sự phát triển của những lực lượng xã hội mới và các mâu thuẫn xã hội ngày càng gay gắt. Nhu cầu chống lại thần học và tôn giáo như thời kỳ thế kỷ XVII, XVIII không còn. Để phát triển sản xuất và củng cố sự thống trị của bản thân họ, giai cấp tư sản cần phát triển khoa học và kỹ thuật. Vì vậy, họ tìm cách điều hòa giữa khoa học và tôn giáo. Sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật đã thúc đẩy sản xuất phát triển mạnh, nhưng vẫn không đem lại tự do, bình đẳng, bác ái mà trái lại đem lại sự khủng hoảng tinh thần ngày càng sâu sắc. Nhà sử học Đức Karl Heussi trong cuốn “Sự khủng hoảng của chủ nghĩa lịch sử” đã nói rằng “Trong mọi lĩnh vực đều vang lên nốt nhạc hoài nghi, phản lịch sử”.[1] Khi so sánh thức lịch sử thế kỷ XIX với thế kỷ XX, Simon cho rằng sự khác biệt của “Con người ở thế kỷ XX đã mất lòng tin vào lịch sử của mình”. “Thế kỷ XX đã đến với chiến tranh, thất vọng và bi quan. Con người với nỗi lo sợ, tuyệt vọng trong dòng chảy của lịch sử là không biết trôi về đâu”.[2] Còn khoa học, nhà sử học Pháp F. Braudel cho rằng “đã biết bao thay đổi, tất cả các khái niệm lý tính đều bị bẻ cong hay đập nát”, “khoa học nơi ẩn náu và biểu tượng của niềm tin thế kỷ XIX, đột nhiên hoàn toàn thay đổi, dẫn đến cuộc sống không ổn định, không rõ hướng đi”.[3]

Từ điều kiện lịch sử ấy, trong triết học phương Tây đã diễn ra sự tách biệt và đối lập giữa các trào lưu triết học khi phản ánh xã hội hiện có. Nổi bật là trào lưu triết học duy khoa học duy tâm mà đại diện là chủ nghĩa thực chứng; trào lưu triết học nhân bản phi lý tính có các hình thức nổi bật là “triết học đời sống”, “triết học hiện sinh” và “triết học Phơrớt; trào lưu triết học tôn giáo có hình thức điển hình là chủ nghĩa Tômát mới.

Một số trào lưu triết học phương Tây hiện đại được hiểu là những trào lưu triết học không phải của chủ nghĩa Mác tồn tại trong xã hội tư bản từ đầu thế kỷ XX đến nay. Các trào lưu triết học phương Tây hiện đại không chỉ là của giai cấp tư sản mà còn của nhiều tầng lớp xã hội khác. Xét về thực chất nó là hệ tư tưởng, thế giới quan của giai cấp tư sản, ra đời và tồn tại gắn liền với chủ nghĩa tư bản và giai cấp tư sản. Nét đặc thù của các trào lưu triết học phương Tây hiện đại là sự phản ánh nhất định thực trạng của xã hội tư bản, sự khủng hoảng của ý thức hệ tư sản, những mâu thuẫn sâu sắc, những vấn đề xã hội, tình trạng thực tế của con người trong xã hội hiện đại chưa giải quyết được. Trong quá trình phản ánh ấy, nhiều nhà triết học đã có những đóng góp nhất định vào sự phát triển các tư tưởng triết học.

Các trào lưu triết học phương Tây hiện đại

[edit]

Trào lưu triết học duy khoa học

[edit]

Trào lưu triết học duy khoa học chủ trương xây dựng triết học theo mô hình các “khoa học thực chứng”. Họ cho rằng, triết học không nên nghiên cứu những vấn đề như bản chất sự vật, các quy luật chung của thế giới… mà đi tìm phương pháp khoa học có hiệu quả nhất, đáng tin cậy nhất mới là nội dung chủ yếu của việc nghiên cứu triết học. Sự ra đời trào lưu triết học này là nguyên nhân xã hội và đặc điểm của khoa học tự nhiên hiện đại. Về xã hội, vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, ở Tây Âu tồn tại cuộc khủng hoảng xã hội trầm trọng, nhưng mặt khác, khoa học tự nhiên có sự tiến bộ to lớn. Đứng trước mâu thuẫn ấy, một số nhà triết học cảm thấy bó tay không có cách gì giải quyết. Họ chán ghét loại triết học thuần túy tư biện vì, về căn bản, loại triết học này không thể góp phần giải quyết những vấn đề xã hội đặt ra. Trong khi đó, sự phát triển mạnh của khoa học đã đem lại cho họ niềm hy vọng và chỗ dựa tinh thần mới. Vì vậy, các nhà triết học chuyển hướng nghiên cứu từ phương diện thế giới quan sang phương diện phương pháp luận của khoa học. Nhiều trường phái và phong trào được gọi là chủ nghĩa duy khoa học ra đời trong bối cảnh ấy. Đặc điểm của khoa học tự nhiên hiện đại vào thời kỳ này là sự phát triển nhanh của nhiều bộ môn khoa học mới; sự phân công nội bộ của khoa học ngày càng tỷ mỷ; sự ứng dụng rỗng rãi toán học, logíc học và việc khoa học ngày càng đi sâu kết cấu vật chất… đã đòi hỏi các môn khoa học thực chứng không những phải nghiên cứu những nội dung cụ thể mà còn phải nghiên cứu những vấn đề chung của khoa học, đặc biệt là vấn đề phương pháp luận nhận thức khoa học. Trào lưu duy khoa học dựa vào yêu cầu đó trong khoa học tự nhiên hiện đại để đưa ra các quan điểm triết học thực chứng của mình.

Chủ nghĩa thực chứng là một trường phái theo trào lưu triết học duy khoa học duy tâm có ảnh hưởng lớn nhất. Về lịch sử, sự ra đời và phát triển của chủ nghĩa thực chứng chia làm bốn giai đoạn: giai đoạn hình thành vào thế kỷ XIX do Ôguýt Côngtơ (1798 – 1857) đề xướng. Giai đoạn phát triển từ cuối thế kỷ XIX đến chiến tranh thế giới lần thứ nhất dưới hình thức chủ yếu là chủ nghĩa Kinh nghiệm phê phán có đại diện tiêu biểu là Risa Avênariut (1843 – 1896) và Engxtơ Makhơ (1838 – 1916). Tư tưởng triết học cơ bản của chủ nghĩa Kinh nghiệm phê phán là thế giới (khách thể) không thể có được nếu không có ý thức, cảm giác (chủ thể). Khái niệm “kinh nghiệm” là cơ sở của chủ nghĩa Kinh nghiệm phê phán được hiểu là tổng số những cảm giác của bản thân con người. Mọi sự vật, hiện tượng là sự kết hợp phức tạp của những yếu tố (yếu tố = cảm giác), tức là những phức hợp cảm giác. Giai đoạn chủ nghĩa thực chứng mới hay triết học phân tích xuất hiện từ những năm 20 – 30 thịnh hành vào những năm 50 của thế kỷ XX. Trường phái điển hình của chủ nghĩa thực chứng mới là chủ nghĩa thực chứng logíc hay chủ nghĩa kinh nghiệm logíc. Giai đoạn hậu thực chứng từ những năm 60 của thế kỷ XX.

Tư tưởng cơ bản của các nhà triết học thực chứng cho rằng chỉ có các hiện tượng hoặc sự kiện mới là cái “thực chứng”, không thừa nhận bản chất của sự vật. Triết học phải lấy các sự vật “thực chứng” làm căn cứ. Thực chất tư tưởng trên của các nhà thực chứng là lẩn tránh vấn đề cơ bản của triết học, muốn loại trừ vấn đề thế giới quan ra khỏi triết học truyền thống.

Sự phát triển của khoa học tự nhiên lý thuyết cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, đã làm cho phương thức tư duy truyền thống bị tác động mạnh. Các phương pháp toán, phương pháp logíc toán đã trở thành phương pháp quan trọng trong khoa học tự nhiên. Một số nhà triết học cho rằng nhiệm vụ của triết học là nghiên cứu các phương pháp của khoa học tự nhiên và logíc hóa triết học mới là lối thoát của triết học hiện đại, trong đó có một số người nhấn mạnh việc phân tích ngôn ngữ. Trường phái coi việc phân tích logíc ngôn ngữ là nội dung trung tâm của triết học gọi là chủ nghĩa thực chứng mới hoặc triết học phân tích.

Chủ nghĩa thực chứng mới xuất hiện và phát triển có tham vọng phân tích và giải quyết những vấn đề phương pháp luận – triết học cấp bách được đặt ra trong tiến trình cuộc cách mạng khoa học đầu thế kỷ. Những vấn đề đó là: vai trò của ký hiệu trong tư duy khoa học, mối quan hệ giữa lý luận và kinh nghiệm của khoa học, bản chất và chức năng của quá trình toán học hóa và hình thức hoá tri thức… Khi đem khoa học đối lập với triết học, các đại biểu của chủ nghĩa thực chứng mới cho rằng chỉ có tri thức khoa học chuyên ngành mới là tri thức duy nhất. Họ coi các vấn đề triết học cổ truyền là thứ siêu hình học vô nghĩa vì chúng dựa trên cơ sở những khái niệm giả danh, vì các định nghĩa của chúng không thể kiểm nghiệm được. Chủ nghĩa thực chứng mới coi nhiệm vụ của triết học không phải là ở sự khái quát hóa và tổng hợp tri thức khoa học chuyên ngành mà là ở hoạt động nhằm phân tích các hình thức ngôn ngữ của tri thức. Họ coi đối tượng của triết học là ngôn ngữ và trước hết là ngôn ngữ của khoa học. Những tư tưởng cơ bản của chủ nghĩa thực chứng mới được hình thành trong phạm vi hoạt động của nhóm Viên (Nâyrát, Cácnáp, Shick, Prancơ…). Chính ở nơi đây đã hình thành những tư tưởng trở thành phổ biến vào những năm 30 – 40 của thế kỷ XX trong giới tri thức khoa học. Đó là những tư tưởng về việc quy triết học thành sự phân tích ngôn ngữ của khoa học về logíc, về nguyên lý xác minh về sự kiến giải logíc học và toán học với tư cách là kết cấu hình thức trong ngôn ngữ của khoa học. Những quan điểm đó trở thành cơ sở của sự thống nhất về tư tưởng và tổ chức của nhóm này. Tuy nhiên, ngay từ những năm 50 của thế kỷ XX người ta thấy rằng cuộc cách mạng trong triết học mà nội dung cơ bản là loại bỏ siêu hình học ra khỏi tri thức triết học và khoa học đã không được đáp ứng. Các vấn đề siêu hình học cổ điển vẫn còn có ý nghĩa để xem xét hoạt động sống, bản chất con người, để phân tích những vấn đề tri thức luận. Vấn đề hình thức hóa hoàn toàn ngôn ngữ của khoa học không thể thực hiện được.

Chủ nghĩa thực chứng mới đã ảnh hưởng đến những công trình nghiên cứu hiện đại về triết học khoa học. Vào những năm 50 – 70 của thế kỷ XX nhóm này được gọi là chủ nghĩa hậu thức chứng (Lacatốt, Cun, Phâyraben…) đã được hình thành một cách căn bản do chịu ảnh hưởng tư tưởng của Poppơ. Chủ nghĩa hậu thực chứng tuy có phục hồi lại “siêu hình học” và thường xuyên phê phán tri thức luận thực chứng mới, nhưng nó vẫn xuất phát từ quan điểm thực chứng mới.

Chủ nghĩa duy khoa học duy tâm đã có công đi sâu nghiên cứu và tiếp thu nhiều thành quả trong toán học và trong các khoa học tự nhiên hiện đại, trong đó có nhân tố tích cực, triết học Mác có thể tiếp thu và sử dụng. Song trào lưu này có mâu thuẫn không thể khắc phục là ở chỗ do muốn phá vỡ một số công thức của triết học truyền thống, nó đã đi đến cực đoan phủ nhận ý nghĩa thế giới quan của triết học, tức là phủ nhận triết học. Vì vậy trào lưu duy khoa học duy tâm không thể mở ra con đường mới cho triết học.

Trào lưu triết học nhân bản phi lý tính

[edit]

Trào lưu triết học nhân bản phi lý tính là trào lưu tiêu biểu của thế giới quan tư sản trong thời đại đế quốc chủ nghĩa. Với tư cách là một trào lưu triết học mà hình thức điển hình là triết học đời sống, triết học hiện sinh, triết học Phơrớt ngay từ đầu đã đối lập với trào lưu triết học duy khoa học, đặt mục đích xoá bỏ nhận thức lý tính và cho rằng cơ sở của triết học là trực giác, là thể nghiệm trực tiếp.

Triết học đời sống là trường phái triết học tư sản chống chủ nghĩa duy vật và khoa học. Quan niệm về đời sống là quan niệm trung tâm của triết học đời sống. Họ coi đời sống là một bản chất thần bí siêu vật chất, có trước sự phân chia vật chất và tinh thần, tồn tại tư duy. Chỉ có trực giác và tri giác phi lý tính mới hiểu được đời sống, không thể sử dụng trí tuệ, tư duy lý tính, khoa học để nhận thức đời sống. Triết học đời sống xuất hiện vào cuối thế kỷ XIX trong giai đoạn chủ nghĩa đế quốc, vào thời kỳ một số môn khoa học liên quan đến sự sống như sinh vật, tâm lý đã bộc lộ sự yếu kém của mình khi lý giải vũ trụ, con người bằng khoa học cơ học. Triết học đời sống có ảnh hưởng đến các khuynh hướng khác của triết học tư sản, nó đánh dấu sự khủng hoảng tinh thần của xã hội tư bản. Triết học đời sống không phải là một hệ thống hoàn chỉnh mà bao gồm nhiều quan điểm duy tâm chủ quan – khách quan, phi lý tính, thần bí, sinh vật học. Các đại biểu của triết học đời sống là Nitse, Dintây, Dimmen, Bécxông, Spengơle, Clagexơ… Bản thân khái niệm đời sống có nhiều nghĩa không rõ ràng. Nitse hiểu đời sống ở bình diện sinh vật học cho rằng thực tại đời sống là “khát vọng quyền lực”, Bécxông hiểu đời sống theo nghĩa vũ trụ học là “khí thể sống”, Dintây hiểu đời sống theo nghĩa văn hóa – lịch sử là biểu hiện như dòng chảy của những xúc xảm và các xúc cảm này bắt nguồn từ điều kiện văn hóa – lịch sử. Chủ nghĩa hiện sinh, chủ nghĩa thực dụng và chủ nghĩa phát xít Đức đã khai thác tư tưởng của triết học đời sống.

Chủ nghĩa hiện sinh là một trường phái triết học chủ yếu trong trào lưu chủ nghĩa nhân bản phi lý tính. Triết học hiện sinh mới đầu ở Đức vào những năm 20 của thế kỷ XX, sau đó trở thành “mốt” trong tư duy và hành động phổ biến của giới trí thức tư sản, đặc biệt là ở các nước phương Tây. Triết học hiện sinh có nguồn gốc từ học thuyết của Kiếccơga (1813 – 1855). Sau đó Xáctơrơ (1905 – 1980) xây dựng hoàn chỉnh triết học hiện sinh.

Nguyên nhân ra đời của triết học hiện sinh trước hết là do mâu thuẫn của xã hội tư bản. Do mục tiêu lợi nhuận tối đa, phương thức sản xuất tư bản đã đẩy con người vào hiện tượng tha hóa. Tệ nạn xã hội và sự tàn phá của chiến tranh đã đẩy con người vào cuộc khủng hoảng tinh thần sâu sắc. Các luận điểm và phong trào hiện sinh thể hiện sự nổi loạn từ trong lòng xã hội tư bản nhằm lên án nó, chống lại nó, kêu gọi con người tự cứu lấy mình. Song dựa vào cái gì để tự cứu mình và cứu xã hội thì không rõ. Nguyên nhân thứ hai là sự phản ứng lại quan điểm tuyệt đối hóa vai trò của khoa học, sùng bái kỹ thuật, hạ thấp con người, chỉ chăm lo mặt vật chất, lý trí con người, xem nhẹ mặt tâm hồn, đời sống tình cảm của họ; mặt khác, khoa học kỹ thuật phát triển đã để lại nhiều mặt trái với con người. Các nhà hiện sinh có lý khi phê phán sự tuyệt đối hóa vai trò của lý tính và vạch rõ sự thiếu hụt tính nhân đạo trong nền tảng văn minh phương Tây. Song sai lầm của họ, khi họ chỉ thừa nhận vai trò của cảm giác, cảm xúc cá nhân, tức họ ngả sang phía chủ quan phi lý tính.

Chủ nghĩa hiện sinh là trường phái triết học phức tạp, có sự khác nhau về quốc gia, tôn giáo và chính trị. Cái chung của những người theo chủ nghĩa hiện sinh là coi hiện sinh (hiện hữu) của cá nhân là nội dung cơ bản trong triết học của mình. Nội dung trung tâm của triết học hiện sinh là vấn đề tồn tại của con người. Triết học hiện sinh coi sự tồn tại của con người là hiện thực tuyệt đối duy nhất. Các nhà hiện sinh gọi hiện sinh (hiện hữu) là sự thụ cảm chủ quan, là sự thể nghiệm tâm lý có tính chất phi lý của cá nhân, là ý thức thuần túy về bản thân. Hiện sinh như vậy là cái đang có mặt (tồn tại) và đang sống đích thực với diện mạo riêng. Vì vậy, hiện sinh không phải là giới tự nhiên hoặc sự vật mà là con người. Chỉ có con người mới có thể hiểu được sự tồn tại của bản thân và của các sự vật khác, chỉ có con người mới có hiện sinh. Còn thế giới và các sự vật được gọi là hữu thể (chỉ một cái gì đó), là cái đang tồn tại, đang có mặt, nhưng chưa là một cái gì cụ thể, chưa có diện mạo, chưa có cá tính gọi là “cái không phải tôi” là “không gì cả”. Đó chính là nguyên tắc “hiện sinh có trước bản chất” của chủ nghĩa hiện sinh. Bản chất (tính cách) của một cá nhân không có tính chất định mệnh mà là một chuỗi quyết định tự do, trong mỗi lúc đang sống là có một quyết định “tự do” hành động thế này, hay thế khác, không thể giải thích được bằng lý tính.

Do các nhà hiện sinh coi vấn đề trung tâm là sự cảm thụ chủ quan, là sự thể nghiệm tâm lý có tính chất phi lý của cá nhân cho nên chủ nghĩa hiện sinh không coi trọng nhận thức khoa học. Tri thức thu được bằng con đường nhận thức khoa học theo họ là dựa trên lý tính hư ảo. Muốn đạt đến hiện sinh chỉ có thể dựa trên cơ sở trực giác phi lý tính chỉ có trong cuộc sống cô đơn, đau khổ, tuyệt vọng, sợ hãi… con người mới trực tiếp cảm nhận được sự tồn tại của mình. Như vậy, nhận thức luận của chủ nghĩa hiện sinh là nhận thức duy tâm chủ quan phi lý tính.

Chủ nghĩa hiện sinh cho rằng tự do là bản chất của cá nhân con người, nó là tuyệt đối, không phụ thuộc bất kỳ điều kiện nào. Giá trị hiện sinh của cá nhân được thể hiện ở sự lựa chọn tự do cá nhân. Tự do của cá nhân không bị gò bó bởi người khác và bất cứ lực lượng xã hội nào. Như vậy, về luân lý, đó là quan điểm của chủ nghĩa cá nhân cực đoan.

Về lịch sử xã hội, triết học hiện sinh cho rằng chỉ có cá nhân mới là hiện sinh chân thật. Còn xã hội là một phương thức hiện sinh của cá nhân, không chân thực. Khi có sự liên hệ giữa xã hội và cá nhân thì sự tồn tại của cá nhân đã bị xã hội lấn át, do đó tồn tại xã hội đã bóp chết hiện sinh chân chính của con người. Vì vậy, con người phải thoát khỏi sự ràng buộc của người khác và xã hội. Xã hội là sản vật tha hóa của con người, không tồn tại khách quan, không phát triển theo quy luật mà là một mớ ngẫu nhiên những con người bị tha hóa. Động lực phát triển xã hội là do sự hiện sinh cá nhân quyết định. Vì vậy, lịch sử không thể nhận thức được, nó mãi mãi vẫn là vùng đen tối và vì vậy, con người đứng trước xã hội luôn cảm thấy yếu đuối, bất lực.

Chủ nghĩa Phơrớt hình thành đầu thế kỷ XX do nhà bệnh học tinh thần Phơrớt [1856 - 1939] sáng lập. Vào thời kỳ này chủ nghĩa tư bản đi vào giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, các mâu thuẫn xã hội ngày càng sâu sắc, bệnh tinh thần trong xã hội phát triển nhanh. Sinh học, sinh lý học, tâm lý học có bước phát triển mạnh làm cho cách giải thích các hiện tượng sinh lý, tâm lý theo lý luận cơ học được thay thế bằng lý luận mới. Trong bối cảnh ấy, Phơrớt sáng lập ra hệ thống phân tích tâm lý đặc biệt chú trọng giải thích đời sống nội tâm của con người, giải thích các bệnh tinh thần.

Bộ phận quan trọng nhất trong hệ thống phân tích tâm lý là lý luận về vô thức. Ông chia quá trình tâm lý của con người thành ba bậc: ý thức, tiềm thức và vô thức ... Sự suy nghĩ của con người thường tiến hành giữa trạng thái ý thức và vô thức. ý thức là tâm lý nhận biết của con người. Còn vô thức là hiện tượng tâm lý nằm ngoài phạm vi lý trí do bản năng, thói quen và dục vọng của con người gây ra. Hoạt động tâm lý này do tình cảm và dục vọng chi phối. Tiềm thức là yếu tố trung gian giữa ý thức và vô thức. Theo Phơrớt trong vô thức có ẩn dấu xung đột bản năng, để trở thành ý thức phải thông qua sự lựa chọn, phê chuẩn của "tiềm thức"; ý thức không phải là thực chất của hoạt động tâm lý mà chỉ là thuộc tính không ổn định của hoạt động tâm lý. Vô thức mới là căn cứ của hành vi con người. Ông phân tích những hành vi vô thức hàng ngày và cho rằng nguyên nhân tâm lý của nói nhịu, viết sai, quên lãng, đưa nhầm, lấy nhầm là kết quả của những ước vọng bị dồn nén. Cống hiến của Phơrớt là đề xuất và nghiên cứu vai trò của vô thức trong hệ thống phân tích tâm lý, nhưng sai lầm là đã khuyếch đại tác dụng của vô thức đối với hành vi của con người, không đánh giá đúng vai trò của ý thức và các điều kiện xã hội.

Trong lý luận về nhân cách, Phơrớt đưa ra khái niệm "cái ấy", "cái tôi" và "cái siêu tôi". Theo Phơrớt, "cái ấy" chính là sự thể hiện của libido [tính dục], bản năng đầu tiên có từ khi con người sinh ra. Nó là nguồn năng lượng tâm lý đòi hỏi bộc lộ và được thoả mãn một cách mãnh liệt, tuân theo nguyên tắc khoái cảm. "Cái tôi" là hệ thống ý thức, cái đứng giữa "cái ấy" và thế giới bên ngoài, hoạt động theo nhu cầu thế giới bên ngoài, điều tiết sự xung đột giữa "cái ấy" và thế giới bên ngoài. "Cái siêu tôi" là đại diện của xã hội, của lý tưởng và của uy thế bên ngoài trong tâm lý con người. Nó được tạo thành từ các chuẩn mực xã hội, quy tắc luân lý và các luật tôn giáo. Phơrớt cho rằng trạng thái tâm lý của con người bình thường là người giữ được cân bằng ba cái: "cái ấy", "cái tôi" và "cái siêu tôi" .v.v...

Những người mắc bệnh tinh thần thường do mối quan hệ cân bằng giữa ba cái đó bị phá vỡ.

Trong hệ thống phân tích tâm lý còn có một nội dung quan trọng là thuyết tính dục. Phơrớt cho rằng trong mọi xung động bản năng của "cái ấy" thì bản năng tính dục là hạt nhân, là cơ sở của hành vi con người. Tính dục theo Phơrớt (nghĩa rộng) là xung đột vĩnh hằng. Do đó về tâm lý thường có hiện tượng nằm mơ, nói nhịu và các bệnh tinh thần khác. Giấc mơ theo Phơrớt "là sự thoả hiệp hình thành giữa yêu cầu của một bản năng dồn nén với sự kháng cự lại của một sức mạnh được kiểm duyệt trong cái tôi". Ông cho rằng nguyên nhân của nhiều loại bệnh tinh thần là do bản năng tình dục bị đè nén.

"Phương pháp giải thoát tinh thần" là phương pháp chữa bệnh tinh thần của Phơrớt. Ông coi nằm mơ là một biểu hiện của tính dục, là khởi điểm tốt của tự do liên tưởng. Theo ông mọi cái thể hiện trong giấc mơ là sự thể hiện hoặc thoả mãn một nguyện vọng nào đó. Do đó, thông qua tự do liên tưởng và tự phân tích có thể biết được điều bí mật trong nội tâm để chữa khỏi bệnh tinh thần. Phơrớt coi bản năng tính dục của con người là cơ sở duy nhất cho các hoạt động của con người. Điều đó không đúng vì không thể tách rời tính xã hội, tách rời phương thức sản xuất của xã hội để bàn luận về hành vi của con người một cách trừu tượng kể cả hành vi tính dục.

Hệ thống phân tích tâm lý của Phơrớt lấy lý luận vô thức và lý luận về tính dục làm hạt nhân và bổ sung những kiến thức quan trọng cho tâm lý học. Chủ nghĩa Phơrớt đã tiếp thu truyền thống duy vật của khoa học tự nhiên cổ điển và của thuyết tiến hoá. Tuy nhiên trong thế giới quan triết học của ông bộc lộ những yếu tố duy tâm khi đem sinh vật hoá những cái thuộc về tâm lý của con người, đem tự nhiên hoá những cái về loài người, đem tâm lý hoá những cái thuộc về xã hội và tuyệt đối hoá cái tâm lý trong đời sống con người.

Trào lưu triết học tôn giáo

[edit]

Triết học tôn giáo theo nghĩa rộng là tập hợp những luận điểm triết học về tôn giáo, về bản chất và chức năng của tôn giáo, về sự tồn tại của Chúa, về bản chất của Chúa với thế giới và con người. Theo nghĩa hẹp, triết học tôn giáo là một bộ phận đặc biệt chuyên suy luận triết học độc lập về Chúa và tôn giáo. Trong chừng mực nào đó, sự xuất hiện trào lưu triết học tôn giáo là để bổ sung cho trào lưu triết học duy khoa học duy tâm và trào lưu triết học nhân bản phi lý tính. Điển hình của trào lưu triết học tôn giáo là chủ nghĩa Tômát mới.

Chủ nghĩa Tômát mới là trào lưu có uy tín nhất của triết học Thiên Chúa giáo hiện đại, dựa trên cơ sở học thuyết của Tômát Đacanh. Chủ nghĩa Tômát mới lấy Chúa làm nòng cốt, lấy đức tin làm tiền đề, lấy thần học làm căn cứ. Triết học Tômát mới là triết học chính thức của Vaticăng sau khi Giáo hoàng Lep XIII công bố vào 1874. Ngay từ nửa đầu thế kỷ XX, bên cạnh bảo vệ tính bất khả thi xâm phạm của những luận điểm cơ bản của triết học Đacanh thì đã xuất hiện những thử nghiệm hiện đại bằng con đường trở lại di sản của Cantơ và các trường phái tư tưởng phương Tây cận đại. Sau hội nghị phê chuẩn đường lối "đổi mới" đạo Thiên Chúa ở Vaticăng (1962 - 1965) thì chủ nghĩa Tômát mới không còn là triết học quan phương duy nhất, song nó vẫn thâm nhập và dưới nhiều hình thức, nó kết hợp với các trường phái triết học khác tạo ra một triết học Thiên Chúa giáo có hình thái mới, thích ứng với đặc điểm thời đại.

Bên cạnh điểm giống với Tômát thời trung cổ là lấy Chúa làm nguyên tắc tối cao thì điểm khác của Tômát mới là thừa nhận ở mức độ nhất định vai trò của khoa học, đòi đi sâu hơn nhận thức luận và triết học tự nhiên thích ứng với nhu cầu của thời đại, để luận chứng cho sự nhất trí giữa tri thức và đức tin, khoa học và thần học.

Về nhận thức luận, khi phân tích tri thức, chủ nghĩa Tômát mới một mặt thừa nhận tính khách quan của nhận thức, tính đúng đắn của các phán đoán khoa học; nhưng mặt khác, dùng nguyên tắc tương đồng loại sung để thừa nhận bản thể của thế giới hiện thực mà xác nhận bản thể của Chúa, từ đó rút ra tri thức lý tính phù hợp với đức tin của con người.

Về triết học tự nhiên, Chủ nghĩa Tômát mới quả quyết rằng các khoa học tự nhiên khi nghiên cứu tự nhiên phải đề cập đến các vấn đề triết học như kết cấu, nguồn gốc vật chất ..., do đó phải lấy học thuyết hình thức và vật chất của Arixtốt làm cơ sở lý luận cho triết học tự nhiên. Dựa vào đó, Chủ nghĩa Tômát mới quả quyết rằng các khoa học tự nhiên khi nghiên cứu tự nhiên phải đề cập đến các vấn đề triết học như kết cấu, nguồn gốc vật chất..., do đó phải lấy học thuyết hình thức và vật chất của Arixtốt làm cơ sở lý luận cho triết học tự nhiên. Dựa vào đó, chủ nghĩa Tômát mới cho rằng bất cứ vật thể nào cũng do hình thức và vật chất cấu thành. Vật chất là bản nguyên thụ động, là khả năng; hình thức là chủ động, là hiện thực; vật chất là cái phi tồn tại, nó cần có hình thức mới giành được tính quy định, mới thực hiện được sự tồn tại của nó. Nhờ có hình thức nên mới thực hiện được tính đa dạng của phương thức tồn tại của vật chất. Triết học tự nhiên lấy hình thức tồn tại phổ quát vĩnh viễn của thế giới vật chất làm đối tượng nghiên cứu, thì đó cũng chính là đối tượng của đức tin của thần học. Vì Chúa là hình thức tối cao, là hình thức của các hình thức cho nên vịêc nghiên cứu của khoa học tự nhiên là quá trình không ngừng phát hiện ra Chúa, khẳng định Chúa và không phủ nhận Chúa. Vậy khoa học và thần học đã hợp tác rất hoà thuận để phát hiện và chứng minh sự tồn tại vĩnh hằng của Chúa.

Về lý luận chính trị xã hội, chủ nghĩa Tômát mới phủ nhận sự tồn tại của các giai cấp, chủ trương thuyết tính người trừu tượng, coi trần thế là tạm thời, cuộc sống tương lai mới là vĩnh hằng. Chủ nghĩa Tômát mới rất chú ý đến sự kết hợp thời đại mới, biết nắm lấy những vấn đề bức xúc của xã hội để tôn giáo có thể phát huy vai trò của tôn giáo trong thời đại mới. Họ cho rằng xã hội hiện nay đang đứng trước những vấn đề nghiêm trọng: khoa học - kỹ thuật phát triển đã đặt ra nhiều vấn đề xã hội phức tạp, khó giải quyết, bản thân khoa học không đủ đảm bảo tiến bộ và hạnh phúc của nhân loại. Con người ra sức chinh phục giới tự nhiên thì họ mất đi ý thức về cuộc sống và tình yêu với Chúa .v.v... Để cứu lấy nhân loại phải nhờ lấy đức tin, đến Chúa, phải lấy Chúa làm trung tâm để con người thấm nhuần những giá trị chân chính ... Vậy, chủ nghĩa Tômát mới sử dụng những mâu thuẫn có thực trong xã hội của chủ nghĩa tư bản hiện đại để tuyên truyền cho Chúa, đề cao đạo đức tôn giáo.

Về đạo đức học, khác với trào lưu duy lý, chủ nghĩa Tômát mới coi đức tin và lý trí nhất trí, thần học và khoa học nhất trí. Hệ thống lý luận đạo đức của chủ nghĩa Tômát mới dựa trên cơ sở đó. Quy tắc đạo đức cao nhất là quy tắc "vĩnh hằng" của Chúa. ý muốn của Chúa vĩnh viễn quy định nội dung đạo đức. Do đó việc nhận thức đạo đức không chỉ dựa vào luận chứng của lý tính mà còn phải dựa vào đức tin, vì, thiếu đức tin tôn giáo thì không thể lĩnh hội được các quy tắc đạo đức của Chúa ban bố.

Trong quá trình "hiện đại hoá" các khái niệm tôn giáo, những đại biểu của Tômát mới tỏ ra chiếu cố cả nhu cầu hiện thực của con người ở cuộc sống trần tục với hạnh phúc của họ ở thế giới bên kia, cả sự hưởng thụ vật chất lẫn tri thức khoa học, tinh thần với mục đích làm cho ý chí của Chúa và tự do của con người hoà điệu với nhau. Họ thừa nhận linh hồn và thể xác con người là thể thống nhất, phản đối sự đối lập giữa đời sống vật chất và tinh thần nhưng lại coi đời sống tinh thần của con người là tiền đề và nhân tố quyết định sự tồn tại của con người. Họ lập luận rằng mục đích cao nhất của hoạt động và ý nghĩa cuộc sống của con người là hướng đến cái "thiện cao nhất", tức là đức tin vào Chúa, nhờ đó mà giành được hạnh phúc vĩnh hằng. Việc đi tìm hạnh phúc trong đời sống vật chất là căn nguyên của những tội lỗi mà con người mắc phải.

Chủ nghĩa Tômát mới coi nguyên nhân của các tội ác là do sự tự do làm thoả mãn dục vọng và nhu cầu vật chất của cá nhân trong xã hội hiện thực. Còn cá nhân với tư cách là thực thể tinh thần liên hệ với Chúa thì cá nhân ấy cao hơn xã hội. Từ đó, Chủ nghĩa Tômát mới nêu lên chủ nghĩa cá nhân tôn giáo "mỗi người vì bản thân mình", "Thượng đế vì mọi người" và họ công kích "chủ nghĩa tập thể" là "tước đoạt tự do tâm linh của con người". Họ quy sự đối lập giữa cá nhân và xã hội trong xã hội hiện nay cho lỗi lầm của chủ nghĩa duy vật, của thuyết vô thần.

Tóm lại, các trào lưu triết học đã nêu trên phản ánh mâu thuẫn sâu sắc của thế giới quan tư sản. Để thoát khỏi khó khăn, triết học phương Tây đã và đang diễn biến theo ba hướng. Một là hợp vào một dòng với triết học tôn giáo. Điều đó biểu hiện một mặt hai trào lưu lớn vốn có liên hệ mật thiết với tôn giáo, mặt khác để biện hộ tốt hơn cho tôn giáo, các nhà thần học và tôn giáo thay đổi cách thức luận giải; hoặc điều hoà đức tin với khoa học để luận chứng những tín điều tôn giáo. Hoặc điều hoà chủ nghĩa nhân bản với thần học. Theo hướng này, chủ nghĩa Tômát mới là có ảnh hưởng lớn nhất, sau đó là chủ nghĩa nhân cách. Hai là sự thâm nhập hoặc hoà vào nhau giữa các trường phái triết học. Từ giữa thế kỷ XX, xu thế các trường phái thâm nhập, hoà vào nhau càng tăng, sự đối lập giữa các trường pháp giảm. Sự xuất hiện chủ nghĩa lịch sử, việc chú giải học thâm nhập vào lĩnh vực triết học khoa học, đánh dấu sự kết hợp của nhận thức luận với xã hội học tri thức. Chủ nghĩa cấu trúc là tư tưởng sử dụng rộng rãi phương pháp kết cấu khoa học và các khoa học xã hội và nhân văn. Ba là, thâm nhập vào chủ nghĩa Mác. Họ cố gắng đi tìm "điểm kết hợp" với chủ nghĩa Mác. Một số người lại chủ trương lấy các trường phái triết học trên để "bổ sung", "xét lại" chủ nghĩa Mác.

Một số kết luận triết học phương Tây hiện đại

[edit]

1

[edit]

Triết học phương Tây hiện đại có ý đồ vượt lên trên sự đối lập giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm. Trào lưu duy khoa học duy tâm nhấn mạnh chống "siêu hình", trào lưu nhân bản phi lý tính nhấn mạnh việc "chống nhất nguyên luận", đều nhằm phủ nhận vấn đề quan hệ giữa tư duy và tồn tại là vấn đề cơ bản của triết học. Trong khi đó họ coi vấn đề trung tâm của triết học là logic khoa học, phương pháp luận khoa học, quan hệ giữa ngôn ngữ và tư duy, tình cảm, ý chí của con người ... Họ tuyên bố chống cả chủ nghĩa duy vật và duy tâm, họ coi triết học của họ là toàn diện, công bằng nhất. Thực tế, bằng cách này hay cách khác, họ không tránh khỏi duy tâm khi giải đáp vấn đề cơ bản của triết học.

Trào lưu duy khoa học cho rằng mọi tri thức chỉ bắt nguồn từ kinh nghiệm nhưng lại không thừa nhận nội dung khách quan của kinh nghiệm. Họ tách rời kinh nghiệm với thực tại khách quan mà nó phản ánh, tách rời hiện tượng với bản chất, phủ nhận con người có thể nhận thức được thực tại khách quan. Họ coi mọi khái niệm khoa học chỉ là giả thiết tiện lợi do con người hư cấu, không có khách quan. Trào lưu nhân bản phi lý tính lấy con người làm bản thể thế giới nhưng khi coi thuộc tính tinh thần của cá nhân là bản chất con người và là nguồn gốc thế giới thì họ là duy tâm.

Tuy nhiên, cả hai trào lưu đã coi trọng nghiên cứu vấn đề con người, khái quát thành quả của khoa học tự nhiên và có những khám phá nhất định đối với quá trình nhận thức khoa học. Chúng ta có thể kế thừa có chọn lọc và phê phán những thành quả đó.

2

[edit]

Các trào lưu triết học phương Tây hiện đại giải thích sự sai lệnh hoặc chống phép biện chứng. Trước thế kỷ XX, họ giải thích sai phép biện chứng duy tâm của Hêghen để chống phép biện chứng duy vật. Đến thế kỷ XX họ dùng quan điểm siêu hình bác bỏ phép biện chứng và tuyên truyền tiến hoá luận tầm thường. Bên cạnh đó có một số nhà triết học tăng cường nghiên cứu phương pháp luận khoa học, trong đó có một số phương pháp chứa đựng những nhân tố hợp lý có tác dụng tích cực đối với nghiên cứu khoa học.

3

[edit]

Với tư cách là hình thái ý thức tư sản ở giai đoạn xã hội lâm vào khủng hoảng sâu sắc, triết học phương Tây hiện đại không còn mang một hình thức lý luận thống nhất và hoàn chỉnh. Từ hai cực đoan, nó phá vỡ sự thống nhất của bản thể luận, nhận thức luận và logic học. Trào lưu duy khoa học duy tâm thoát ly bản thể luận để nghiên cứu cô lập nhận thức và phương pháp luận. Nó đề cao khoa học, hạ thấp triết học, quy triết học thành sự tổng hợp của các khoa học cụ thể hoặc phân tích về phương pháp mà thực chất là nhằm thủ tiêu triết học. Chủ nghĩa nhân bản phi lý tính lấy con người làm trung tâm nhưng lại hạ thấp vai trò nhận thức khoa học của con người đối với thế giới. Bằng cách đó nó đã cắt rời bản thể luận, nhận thức luận và lôgic.

4

[edit]

Về tổng thể, triết học phương Tây hiện đại với tư cách là hình thái thức của giai cấp tư sản nhưng khuynh hướng chính trị lại có sự khác biệt nhất định. Trong đó có trường phái phản mác-xít cực đoan; có trường phái bộclộ sự hoang mang của tầng lớp trung gian đối với sự khủng hoảng của xã hội; có trường phái tiến hành nghiên cứu một số vấn đề cấp bách của thời đại, đã đạt được một số kết quả, đồng thời còn những hạn chế nhất định. Hai loại vấn đề quan trọng đã cố gắng đưa ra câu trả lời. Đó là:

Thứ nhất, trào lưu nhân bản phi lý tính khi lý giải vấn đề mối quan hệ giữa khoa học - kỹ thuật và con người đã phát hiện đúng một số nhược điểm của triết học kỹ trị và chủ nghĩa duy lý, đã vạch ra những mâu thuẫn, khủng hoảng nhất định là hiện tượng tha hoá của xã hội phương Tây hiện đại. Nhưng họ lại giải thích sai lầm rằng mâu thuẫn cơ bản của chủ nghĩa tư bản là do sự dồn nén của xã hội với bản tính cá nhân con người do sự tiến hộ khoa học - kỹ thuật và đời sống vật chất được nâng cao mang lại.

Thứ hai, làm thế nào từ tầm cao của triết học mà vạch ra được bản tính của khoa học và các quy luật phát triển của nó. Triết học về khoa học trong triết học phương Tây ra đời giữa thế kỷ XX đã có công xử lý một loạt vấn đề có quan hệ biện chứng với nhau như sự phát triển khoa học và sự chứng minh khoa học; lý luận khoa học và hoạt động khoa học; những nhân tố bên trong của khoa học và điều kiện bên ngoài của khoa học; sự phát triển bình thường và bước thay đổi cách mạng của nó; phương pháp logic và phương pháp lịch sử ... Nhưng do ảnh hưởng của lập trường duy tâm, thiếu sự tự giác thực hiện phép biện chứng nên họ không thành công trong tổng kết và khái quát một cách đúng đắn quy luật phát triển của khoa học hiện đại.

Tham khảo

[edit]
  1. K: heussi, Die Krisis des Historismus. Tubingen, 1932, tr 21, 36.
  2. P.H. Simon, L‟esprit et l‟histoire: Essai sur la conscience historique dans la líttérature du XX Siècle, Paris, 1954, tr 17, 18, 25
  3. F. Braudel, Les responsabilités de l‟histoire Cahiers Internationaux de sociologie, tomex, 1951, P5