Triết học không chuyên/7/Những yêu cầu cơ bản của nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn
Thực tiễn là cơ sở, là động lực, là mục đích và tiêu chuẩn của lý luận; lý luận hình thành, phát triển phải xuất phát từ thực tiễn, đáp ứng yêu cầu thực tiễn
[edit]Thực tiễn là cơ sở của lý luận. Xét một cách trực tiếp, lý luận là hệ thống tri thức được khái quát từ các quy luật tự nhiên, quy luật xã hội và quy luật tư duy. Nhưng những tri thức được khái quát thành lý luận là kết quả của quá trình hoạt động thực tiễn của con người. Thông qua hoạt động thực tiễn, con người phân tích cấu trúc, tính chất và các mối quan hệ của các trạng thái vật chất để hình thành tri thức về đối tượng. Quá trình hoạt động thực tiễn là cơ sở để bổ sung và điều chỉnh những tri thức đã được khái quát. Mặt khác, hoạt động thực tiễn của con người làm nảy sinh những vấn đề mới đòi hỏi quá trình nhận thức phải tiếp tục giải quyết. Thông qua đó, tri thức về đối tượng được bổ sung, mở rộng. Chính vì vậy, V. I. Lênin nói: “Nhận thức lý luận phải trình bày khách thể trong tính tất yếu của nó, trong những quan hệ toàn diện của nó, trong sự vận động mâu thuẫn của nó, tự nó và vì nó”[1].
Thực tiễn là động lực của lý luận. Hoạt động của con người không chỉ là nguồn gốc để hoàn thiện các cá nhân mà còn góp phần hoàn thiện các mối quan hệ của con người với tự nhiên, với xã hội. Thông qua hoạt động thực tiễn mà các cơ quan cảm giác được hoàn thiện hơn, tạo khả năng phản ánh nhạy bén hơn, chính xác hơn, nhanh hơn; hoạt động thực tiễn còn tạo ra những phương tiện để tăng năng lực phản ánh của con người đối với đối tượng.
Lý luận làm phương pháp của quá trình hoạt động đã đưa lại hiệu quả hơn, kích thích quá trình nhận thức hình thành lý luận. Nhờ vậy mà con người nhận thức bản chất của thế giới ngày càng sâu sắc hơn, đầy đủ hơn.
Thực tiễn là mục đích của lý luận. Mặc dù lý luận cung cấp những tri thức khái quát về thế giới để làm thoả mãn nhu cầu hiểu biết của con người nhưng mục đích chủ yếu của lý luận là nâng cao năng lực hoạt động của con người trước hiện thực khách quan để đưa lại lợi ích cao hơn, thoả mãn nhu cầu ngày càng tăng của cá nhân và xã hội.
Tự thân lý luận không thể tạo nên những sản phẩm đáp ứng nhu cầu của con người. Nhu cầu đó chỉ được thực hiện trong hoạt động thực tiễn. Hoạt động thực tiễn sẽ biến đổi tự nhiên và xã hội theo mục đích của con người. Đó thực chất là mục đích của lý luận. Lý luận phải đáp ứng năng lực hoạt động thực tiễn của con người.
Thực tiễn là tiêu chuẩn của lý luận. Tính chân lí của lý luận chính là sự phù hợp của lý luận với hiện thực khách quan, với thực tiễn; là giá trị của lý luận đối với hoạt động, sinh hoạt của con người. Do đó, mọi lý luận phải thông qua thực tiễn để kiểm nghiệm. Chính vì thế mà C. Mác nói: “Vấn đề tìm hiểu xem tư duy của con người có thể đạt đến chân lí khách quan hay không, hoàn toàn không phải là vấn đề lý luận mà là một vấn đề thực tiễn. Chính trong thực tiễn mà con người phải chứng minh chân lí”[2]. Thông qua thực tiễn, những tri thức đạt đến chân lí sẽ được bổ sung vào kho tàng tri thức nhân loại. Những kết luận chưa phù hợp thực tiễn thì tiếp tục điều chỉnh, bổ sung hoặc nhận thức lại. Giá trị của các tri thức nhất thiết phải được chứng minh trong hoạt động thực tiễn. Lý luận tuy được khái quát từ tri thức khoa học nhưng sự khái quát đó có phù hợp hay không phải thông qua thực tiễn để chứng minh.
Vì sao thực tiễn là tiêu chuẩn của lý luận, V.I. Lênin giải thích điều này như sau: "Thực tiễn của con người lặp đi lặp lại hàng nghìn triệu lần được in vào ý thức của con người bằng những hình tượng lôgíc. Những hình tượng này có tính vững chắc của một thiên kiến, có một tính chất công lí, chính vì (và chỉ vì) sự lặp đi, lặp lại hàng nghìn triệu lần ấy”[3].
Tuy thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lí, nhưng không phải mọi thực tiễn đều là tiêu chuẩn của chân kí. Thực tiễn là tiêu chuẩn chân lí của lý luận khi thực tiễn đạt đến tính toàn vẹn của nó. Tính toàn vẹn của thực tiễn là thực tiễn đã trải qua quá trình tồn tại, vận động, phát triển và chuyển hoá. Đó là chu kì tất yếu của thực tiễn. Thực tiễn có nhiều giai đoạn phát triển khác nhau. Nếu lý luận chỉ khái quát một giai đoạn nào đó, một bộ phận nào đó của thực tiễn thì lý luận có thể xa rời thực tiễn. Do đó chỉ những lý luận nào phản ánh được tính toàn vẹn của thực tiễn thì mới đạt đến chân lí. Chính vì vậy, không phải bất kì thực tiễn nào cũng có thể là tiêu chuẩn của lý luận.
Quá trình thăng trầm của chủ nghĩa xã hội thế giới cho chúng ta thấy rõ điều đó. Sau khi giành được chính quyền, những người vô sản tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội với cơ chế kế hoạch hoá, tập trung, bao cấp thông qua hai hình thức sở hữu là toàn dân và tập thể. Tương ứng với hai hình thức sở hữu đó là hai thành phần kinh tế: quốc doanh và tập thể. Thời kì đầu, chủ nghĩa xã hội đã đạt được nhiều thành tựu rực rỡ. Từ đây, chúng ta cho rằng, cơ chế đó, hai thành phần kinh tế đó và những lý luận ra đời trên nền tảng ấy vừa khẳng định tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội, vừa khẳng định lý luận xây dựng chủ nghĩa xã hội là hoàn toàn khoa học. Khủng hoảng của chủ nghĩa xã hội từ những năm 70 dẫn đến sụp đổ một loạt nước xã hội chủ nghĩa vào đầu những năm 90 của thế kỉ XX chứng tỏ thực tiễn của chủ nghĩa xã hội chưa bộc lộ hết, chưa phát triển toàn vẹn nên lý luận chưa phản ánh đúng hiện thực khách quan.
Tuy xét đến cùng, thực tiễn là tiêu chuẩn duy nhất của chân lí, của lý luận. Nhưng vì thực tiễn vừa có tính tuyệt đối, vừa có tính tương đối, do đó ngoài tiêu chuẩn thực tiễn còn có thể có những tiêu chuẩn khác như tiêu chuẩn lôgíc, tiêu chuẩn giá trị ... Song các tiêu chuẩn đó vẫn phải trên nền tảng của thực tiễn. Chính vì vậy, chúng ta có thể nói khái quát, thực tiễn là tiêu chuẩn của lý luận.
Quá trình phát triển nhận thức của con người nhất thiết dẫn đến sự hình thành lý luận. Đó không chỉ là sự tổng kết, khái quát từ lịch sử nhận thức mà do nhu cầu của thực tiễn. Thực tiễn phong phú, đa dạng, luôn vận động và biến đổi. Trong sự biến đổi bất tận đó, chúng đều có mối liên hệ, thống nhất và ảnh hưởng lẫn nhau, đều có cái chung. Lý luận chính là khái quát cái chung đó. Theo bản chất của nó, không phải hoạt động nào cũng được bắt đầu bằng lý luận. Có những thực tiễn phải trải qua thời gian lâu dài mới có thể khái quát bằng lý luận. Thực trạng đó có thể do thực tiễn phức tạp, chưa bộc lộ bản chất của chúng; cũng có thể do con người chưa đủ năng lực nắm bắt, phản ánh chúng; hoặc có thể do thực tiễn chưa đáp ứng lợi ích của con người nên chưa hình thành lý luận. Có thể nói rằng, để hình thành lý luận, trước hết, lý luận phải đáp ứng thực tiễn. Con người nhận thức hiện thực khách quan để giải quyết những vấn đề con người quan tâm. Năng lực của con người ngày càng được nâng cao chính nhờ khả năng thông qua hoạt động phản ánh, khái quát thành tri thức lý luận. Trong sự vô cùng, vô tận của hiện thực khách quan, con người không hề choáng ngợp mà bằng mọi biện pháp để nhận thức theo định hướng mục đích. Thông qua tính mục đích đó mà lý luận được hình thành. Loài người có khả năng trở thành chủ thể nhận thức để phản ánh sự vô tận của hiện thực khách quan, nhưng để đáp ứng hoạt động thực tiễn, con người tích luỹ lý luận, mà trước hết là những lý luận phù hợp với nhu cầu hoạt động thực tiễn của con người. Đó là những lý luận mang tính phương pháp cho hoạt động cải tạo hiện thực khách quan. Mọi hoạt động của con người đều nhằm đạt hiệu quả cao. Lý luận, trước hết phải đáp ứng nhu cầu đó. Quan hệ trong quá trình tồn tại giữa người với người, giữa người với tự nhiên đòi hỏi con người phải có lý luận sâu sắc về chúng. Lý luận sáng tạo là trình độ lý luận cao của lý luận. Con người hình thành lý luận chủ yếu để làm phương pháp cho hoạt động trong đó có hoạt động sáng tạo tri thức, phát minh, sáng chế những tư liệu sản xuất, tư liệu sinh hoạt nhằm nâng cao năng lực sáng tạo của con người.
Mọi lý luận đều hữu ích đối với con người. Nhưng lý luận nào góp phần giải quyết đúng đắn, phù hợp mục đích của con người thì được con người quan tâm nhất. Do đó, lý luận phải đáp ứng nhu cầu phát triển của thực tiễn.
Thực tiễn phải đƣợc chỉ đạo bởi lý luận; ngƣợc lại, lý luận phải đƣợc vận dụng vào thực tiễn, tiếp tục bổ sung và phát triển trong thực tiễn
[edit]C. Mác đã từng nói, người thợ xây không bao gì tinh xảo như con ong xây tổ, nhưng người thợ xây hơn hẳn con ong ở chỗ, trước khi xây dựng một công trình, họ đã hình thành được hình tượng của công trình ấy trong đầu họ. Tức là, hoạt động của con người là hoạt động có ý thức. Ban đầu, hoạt động của con người chưa có lý luận làm phương pháp. Song, con người phải hoạt động để đáp ứng nhu cầu tồn tại của mình. Thông qua đó, con người khái quát thành lý luận. Từ đó, những hoạt động của con người muốn có hiệu quả nhất thiết phải có lý luận. Tuy lý luận chưa thể đầy đủ, nhưng quá trình hoạt động để cải tạo hiện thực khách quan cũng như bổ sung lý luận đều phải biết vận dụng lý luận đã có cho quá trình hoạt động của con người. Bản chất của lý luận vừa mang tính tri thức, vừa mang tính phương pháp. Nghĩa là, lý luận vừa thoả mãn nhu cầu nhận thức, vừa thoả mãn nhu cầu hoạt động của con người.
Lý luận là phương pháp của thực tiễn vì lý luận có khả năng định hướng mục tiêu, xác định lực lượng, phương pháp, biện pháp thực hiện. Lý luận còn dự báo được khả năng phát triển cũng như các mối quan hệ của thực tiễn, dự báo được những rủi ro có thể xẩy ra, những hạn chế, những thất bại có thể có trong quá trình hoạt động, Như vậy, lý luận không chỉ là phương pháp để mang lại hiệu quả hoạt động, đáp ứng nhu cầu của con người, mà còn là phương pháp để khắc phục những hạn chế và tăng năng lực hoạt động của con người. Mặt khác, lý luận còn có vai trò giác ngộ mục tiêu, lí tưởng, liên kết các cá nhân thành cộng đồng, tạo thành sức mạnh vô địch. Chính vì vậy, C. Mác đã cho rằng: “Vũ khí của sự phê phán cố nhiên không thể thay thế được sự phê phán bằng vũ khí, lực lượng vật chất chỉ có
thể bị đánh đổ bằng lực lượng vật chất; nhưng lý luận cũng sẽ trở thành lực lượng vật chất, một khi nó thâm nhập vào quần chúng”[4].Do lý luận là cái phản ánh nên hoạt động ban đầu của con người chưa có lý luận làm phương pháp. Ngày nay, những lĩnh vực mới trong hoạt động của con người cũng chưa có lý luận làm phương pháp. Hoạt động sáng tạo không chỉ để phát minh tri thức mới mà còn góp phần bổ sung, khái quát lý luận mới. Ngay trong những hoạt động đó, mặc dù chưa có lý luận làm phương pháp nhưng con người vẫn dựa vào những tri thức, những lý luận tiền đề làm phương pháp cho quá trình hình thành tri thức, hình thành lý luận mới.
Tuy lý luận mang tính phương pháp, nhưng lý luận còn mang tính lịch sử, cụ thể. Do đó khi vận dụng lý luận, chúng ta cần phân tích lý luận, nhận thức thực tiễn để lý luận thực sự là phương pháp cho hoạt động của con người. Nếu vận dụng lý luận máy móc, giáo điều, kinh viện thì chẳng những hiểu sai giá trị của lý luận mà còn làm phương hại đến thực tiễn, làm sai lệch sự thống nhất tất yếu giữa lý luận và thực tiễn.
Lý luận hình thành là kết quả của quá trình nhận thức lâu dài và khó khăn của con người. Kết quả của tư duy không phụ thuộc vào tư duy mà thuộc về thực tiễn. Vì hoạt động thực tiễn mà con người khái quát thành lý luận. Tuy hoạt động thực tiễn phong phú, đa dạng nhưng không phải không có tính quy luật. Tính quy luật của thực tiễn được khái quát dưới hình thức lý luận. Mục đích của lý luận không chỉ làm phương pháp cho hoạt động thực tiễn mà còn định hướng cho hoạt động thực tiễn. Đó là định hướng mục tiêu, biện pháp sử dụng lực lượng, định hướng giải quyết các mối quan hệ trong hoạt động thực tiễn. Không những thế, lý luận còn định hướng mô hình của hoạt động thực tiễn. Vận dụng lý luận vào hoạt động thực tiễn, trước hết, từ lý luận để xây dựng mô hình thực tiễn theo những mục đích khác nhau của quá trình hoạt động, dự báo các diễn biến, các mối quan hệ, lực lượng tiến hành và những phái sinh của nó trong quá trình phát triển để phát huy các nhân tố tích cực, hạn chế những yếu tố tiêu cực nhằm đạt kết quả cao hơn.
Lý luận tuy là lôgíc của thực tiễn, song, lý luận có thể lạc hậu so với thực tiễn. Vận dụng lý luận vào thực tiễn đòi hỏi chúng ta phải bám sát diễn biến của thực tiễn để kịp thời điều chỉnh, bổ sung những khiếm khuyết của lý luận, hoặc giả có thể thay đổi lý luận cho phù hợp với thực tiễn. Khi vận dụng lý luận vào thực tiễn, chúng có thể mang lại hiệu quả hoặc có thể không, hoặc kết quả chưa rõ ràng. Trong trường hợp đó, giá trị của lý luận phải do thực tiễn quy định. Tính năng động của lý luận chính là điều chỉnh cho phù hợp với thực tiễn. Lênin nhận xét rằng: “Thực tiễn cao hơn nhận thức (lý luận) vì nó có ưu điểm không những của tính phổ biến, mà cả tính hiện thực trực tiếp”[5].
Tham khảo
[edit]- ↑ V. I. Lênin: Toàn tập, Nxb. Tiến bộ, Matxcơva 1981, tập 29, tr. 227.
- ↑ C. Mác và Ph. Ăngghen: Toàn tập, NXB. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr.10.
- ↑ V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb. Tiến bộ, Matxcơva, 1981, t.29, tr.234.
- ↑ C. Mác và Ph. Ăngghen: Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hêghen, Lời nói đầu, Toàn tập,
- ↑ V.I. Lênin: Bút ký triết học, Toàn tập, NXB. Matxcơva, 1981, tr..230.