Triết học không chuyên/7/Ý nghĩa phương pháp luận của nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn giai đoạn hiện nay
Để phát triển lý luận phải luôn luôn bám sát thực tiễn, phản ánh đƣợc yêu cầu của thực tiễn, khái quát đƣợc những kinh nghiệm của thực tiễn
[edit]Thực tiễn là cái được phản ánh, lý luận là cái phản ánh. Để hiểu được thực tiễn dưới dạng hình tượng lôgic nhất thiết phải hình thành lý luận. Bản thân thực tiễn luôn luôn vận động, phát triển và biến đổi. Quá trình đó diễn ra có lúc tuân theo quy luật, có lúc không, có lúc khá phức tạp. Để hình thành lý luận, nhận thức phải bám sát quá trình đó. Thực tiễn lặp đi lặp lại hàng nghìn triệu lần (Lênin), bám sát thực tiễn không chỉ đơn giản phản ánh phù hợp thực tiễn đương đại mà còn phải so sánh, đối chiếu, phân tích để chọn lọc thực tiễn mang tính khách quan, mang tính quy luật làm cơ sở cho quá trình hình thành lý luận. Không phải mọi thực đều là tiêu chuẩn của chân lí, của lý luận, mà chỉ những thực tiễn nào vừa mang tính điển hình, vừa mang tính trực tiếp mới thực sự là cơ sở của lý luận.
Có thể nói, mọi hoạt động của con người có thể khái quát thành lý luận. Thế nhưng, có những thực tiễn bản thân nó đã mang tính lý luận nên nó không đòi hỏi phải khái quát thành lý luận. Khả năng nhận thức của con người vừa vô hạn, vừa hữu hạn (Ph. Ăngghen); do đó, con người không thể và không nên khái quát tất cả thực tiễn thành lý luận. Lý luận vừa mang tính tuyệt đối, vừa mang tính tương đối, một trong những tính tương đối của lý luận là khái quát thực tiễn thiết thực, trực tiếp. Chính từ tính tương đối này để hình thành lý luận tuyệt đối. Nếu lý luận không phản ánh nhu cầu của thực tiễn, không đáp ứng yêu cầu của thực tiễn thì lý luận trước sau cũng bị lãng quên, hoặc chí ít cũng không được tôn trọng hoặc coi thường lý luận. Kinh nghiệm hoạt động của con người là cơ sở để hình thành lý luận. Đó là tri thức trực tiếp góp phần tích cực vào quá trình tồn tại của loài người. Lý luận phải phản ánh khái quát được kinh nghiệm của loài người thì vừa đạt được tính khoa học, vừa đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn.
Nghiên cứu tổng kết kinh nghiệm thực tiễn Việt Nam và quốc tế để tiếp tục hoàn thiện lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam chính là thể hiện cụ thể tính thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong hoạt động cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Kế thừa tư tưởng của các nhà lý luận chủ nghĩa xã hội không tưởng thế kỉ XVIII - XIX, C. Mác - Ph. Ăngghen đã dần dần hình thành lý luận hình thái kinh tế - xã hội và khẳng định tính tất yếu của hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa. Các ông đã đưa ra những nội dung cơ bản của lý luận về hình thái kinh tế - xã hội này. Đó là chế độ không có người bóc lột người trên cơ sở thủ tiêu sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất của giai cấp tư sản, thiết lập nền công hữu về tư liệu sản xuất, nền kinh tế phát triển có kế hoạch để khắc phục khủng hoảng kinh tế do mất cân đối giữa các lĩnh vực sản xuất xã hội; thiết lập hình thức phân phối mới làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu mà giai đoạn thấp là phân phối theo lao động. Trên nền tảng lý luận này, sau khi cách mạng xã hội chủ nghĩa thắng lợi ở nước Nga (10 - 1917), mô hình xã hội chủ nghĩa đã được thực hiện ở Liên Xô và hầu hết các nước xã hội chủ nghĩa khác. Chủ nghĩa xã hội đã đạt được nhiều thành tựu, đã có nhiều đóng góp vào tiến trình phát triển nhưng lại thiếu sự bổ sung lý luận trong điều kiện thực tiễn nhân loại biến đổi không ngừng. Chính vì vậy, chủ nghĩa xã hội đã khủng hoảng và sụp đổ ở nhiều nước. Lý luận hình thái kinh tế - xã hội của chủ nghĩa Mác - Lênin là cái chung, song, trong điều kiện của thời kì quá độ phải được nhận thức cho phù hợp với thực tiễn. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII Đảng Cộng sản Việt Nam đã thông qua những đặc điểm cơ bản của chủ nghĩa xã hội nước ta. Từ thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta và lịch sử phát triển của chủ nghĩa xã hội, Đại hội IX khẳng định: "Con đường đi lên của nước ta là sự phát triển quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, tức là bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng tư bản chủ nghĩa, nhưng tiếp thu, kế thừa những thành tựu mà nhân loại đã đạt được dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, đặc biệt về khoa học
và công nghệ, để phát triển nhanh lực lượng sản xuất, xây dựng nền kinh tế hiện đại"[1]. Vấn đề nghiên cứu, tìm tòi để làm luận chứng cho lý luận về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta vẫn đang tiếp tục. Hội nghị
Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ năm khoá (IX) đánh giá: “Công tác lý luận chưa theo kịp sự phát triển và yêu cầu của cách mạng”[2] và nhấn mạnh: “Đẩy mạnh tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, góp phần làm rõ hơn nữa con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta"[3].
Đúng như C. Mác và Ph. Ăngghen đã nói: “Chủ nghĩa cộng sản, ở mức độ nó là lý luận, là sự biểu hiện của lập trường của giai cấp vô sản trong cuộc đấu tranh đó và sự khái quát lý luận về những điều kiện giải phóng của giai cấp vô sản”[4].
Trong hoạt động thực tiễn phải lấy lý luận khoa học làm phương pháp, khi vận dụng lý luận phải phù hợp với không gian và thời gian
[edit]Lý luận được hình thành không chỉ là sự tổng kết thực tiễn mà còn mục đích cho hoạt động thực tiễn tiếp theo. Sự phát triển của thực tiễn trong lịch sử đã được lý luận khái quát. Mặc dù thực tiễn diễn biến phức tạp, ít khi lặp lại hoàn toàn, song, thực tiễn nào cũng mang tính khách quan, mang tính khuynh hướng. Chính vì lý luận có khả năng phản ánh thực tiễn dưới dạng quy luật mà lý luận có khả năng trở thành phương pháp luận cho thực tiễn. V.I. Lênin đã nói rất đúng rằng: “Không có lý luận cách mạng thì không thể có phong trào cách mạng”.
Từ khi ra đời đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động cách mạng của mình. Kiên định lập trường đó, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: “Đảng và nhân dân ta quyết tâm xây dựng đất nước Việt Nam theo con đường xã hội chủ nghĩa trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh”[5]. Chính vì chủ nghĩa Mác - Lênin là hệ thống lý luận không chỉ được hình thành trong những điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội, trong sự phát triển của khoa học tự nhiên cũng như những thành tựu của lý luận thế kỉ XVIII – XIX mà còn được khái quát từ thực tiễn phong trào cách mạng của quần chúng lao động, đồng thời nó phù hợp với thực tiễn của lịch sử.
“Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại”[6]. “Tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường cho cuộc đấu tranh của nhân dân ta giành thắng lợi, là tài sản tinh thần to lớn của Đảng và nhân dân ta”[7].
Lý luận không chỉ có kế thừa mà còn có tính cách mạng, tính dự báo. Khả năng đó đã được thực tiễn cách mạng nước ta chứng minh. Nhưng lý luận chỉ khái quát thực tiễn dưới hình thức khuynh hướng. Sự phát triển phong phú, đa dạng, phức tạp của thực tiễn, đặc biệt là thực tiễn chính trị - xã hội càng đòi hỏi phải dựa vào khuynh hướng cơ bản của lý luận để bổ sung, hoàn thiện lý luận về chủ nghĩa xã hội phù hợp thực tiễn nước ta hiện nay.
Vận dụng, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hóa phù hợp với cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện nay chính là khẳng định độc lập về tư tưởng của chúng ta.
Coi trọng lý luận chính là vận dụng sáng tạo các tri thức khoa học nhân loại đã đạt được vào điều kiện cụ thể của nước ta. Khoa học và công nghệ không chỉ phản ánh chân lí khách quan mà còn phản ánh nhu cầu và nguyện vọng khách quan của con người. Thành tựu của khoa học và công nghệ đã tác động sâu sắc đến các lĩnh vực của đời sống xã hội thế giới. Không có một quốc gia nào đứng ngoài sự tác động của nó. Khoa học và công nghệ là sự kế thừa và tích hợp thành tựu của quá khứ và hiện tại, sự cố gắng không mệt mỏi của bao thế hệ, là thành tựu mang tính nhân loại. Con đường phát triển ngắn nhất và bền vững nhất hiện nay của các quốc gia chậm phát triển là tranh thủ thời cơ, ứng dụng triệt để thành tựu của khoa học và công nghệ nhân loại để phát triển đất nước. Để đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phấn đấu cơ bản trở thành nước công nghiệp vào năm 2020, chúng ta phải nhanh chóng tiếp cận và ứng dụng triệt để sự phát triển của khoa học và công nghệ thế giới mới có thể phát huy hết tiềm năng vốn có. Chính vì vậy, định hướng phát triển khoa học và công nghệ nước ta trong thời gian tới là: "Tập trung xây dựng và phát triển tiềm lực khoa học và công nghệ của đất nước, tăng năng lực tiếp thu, làm chủ thích nghi, cải tiến các công nghệ hiện đại nhập từ nước ngoài trong một số lĩnh vực sản xuất, dịch vụ, kết cấu hạ tầng, rút ngắn thời gian chuyển giao công nghệ, sớm đưa vào ứng dụng trong sản xuất"[8].
Lý luận cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin khi vận dụng vào thực tiễn phải quán triệt quan điểm lịch sử, cụ thể, đồng thời biết tiếp thu những thành tựu của tư duy nhân loại trong xây dựng nền kinh tế thị trường, thành tựu về xây dựng bộ máy nhà nước pháp quyền, cơ chế quản lí khoa học, công nghệ, văn hoá, xã hội... để thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Một trong những lĩnh vực hoạt động của con người mà thực tiễn và lý luận được kết hợp một cách mật thiết là lĩnh vực giáo dục và đào tạo. Giáo dục và đào tạo đã được Đảng và Nhà nước ta quan tâm phát triển từ khi nền cộng hoà được thiết lập. Trong quá trình cách mạng, giáo dục và đào tạo đã góp phần đào tạo lớp người lao động mới có lí tưởng cách mạng, có năng lực hoàn thành nhiệm vụ, vượt qua mọi khó khăn, có sức khoẻ và có kỉ luật. Thắng lợi của hai cuộc kháng chiến, của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, đặc biệt trong thời kì đổi mới càng chứng tỏ giáo dục, đào tạo nước ta đã đóng góp tích cực cho sự phát triển kinh tế - xã hội. Tuy thế, giáo dục và đào tạo nước ta còn nhiều bất cập. Mô hình các bậc học, các loại hình đào tạo chưa thật khoa học và ổn định, chưa thật phù hợp với thực tiễn. Nội dung, chương trình, chất lượng đào tạo chưa đáp ứng sự phát triển của nền kinh tế thị trường, của sự phát triển khoa học và công nghệ. Từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, giáo dục và đào tạo được xác định là quốc sách hàng đầu. Theo đó, đầu tư hàng năm cho giáo dục và đào tạo được tăng lên. Mục tiêu giáo dục và đào tạo của nước ta là mở mang dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Đại hội IX xác định: “Bồi dưỡng thế hệ trẻ tinh thần yêu nước, yêu quê hương, gia đình và tự tôn dân tộc, lý tưởng xã hội chủ nghĩa, lòng nhân ái, ý thức tôn trọng pháp luật, tinh thần hiếu học, chí tiến thủ lập nghiệp, không cam chịu nghèo hèn. Đào tạo lớp người lao động có kiến thức cơ bản, làm chủ kỹ năng nghề nghiệp, quan tâm hiệu quả thiết thực, nhạy cảm với cái mới, có ý thức vươn lên về khoa học và công nghệ. Xây dựng đội ngũ công nhân lành nghề, các chuyên gia và nhà khoa học, nhà văn hoá, nhà kinh doanh, nhà quản lí. Chính sách sử dụng lao động và nhân tài phải tận dụng mọi năng lực, phát huy mọi tiềm năng của các tập thể và cá nhân phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước”[9]. Giáo dục và đào tạo phải xuất phát từ thực tiễn kinh tế - xã hội nước ta, đáp ứng sự phát triển của đất nước, phấn đấu để rút ngắn khoảng cách giữa giáo dục và đào tạo nước ta với các nước tiên tiến trong khu vực và trên thế giới. Trong "Phương hướng, nhiệm vụ kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2001 - 2005", Chính phủ khẳng định: “Tiếp tục quán triệt quan điểm giáo dục là quốc sách hàng đầu và tạo sự chuyển biến cơ bản, toàn diện trong phát triển giáo dục và đào tạo... Tiếp tục đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp giảng dạy và phương thức đào tạo đội ngũ lao động có chất lượng cao, đặc biệt là trong các ngành kinh tế, kỹ thuật mũi nhọn, công nghệ cao... Đổi mới cơ bản công tác quản lí và tổ chức giáo dục; xây dựng hệ thống giáo dục nhằm tạo điều kiện cho mọi người có thể học tập suốt đời theo hướng thiết thực, hiện đại, gắn chặt với yêu cầu của xã hội. Hoàn thiện cơ chế, chính sách và luật pháp để bảo đảm sự nghiệp giáo dục phát triển ổn định, chất lượng, hiệu quả, đáp ứng nhu cầu về con người và nguồn nhân lực cho đất nước phát triển nhanh và bền vững. Ngăn chặn và đẩy lùi những hiện tượng tiêu cực trong ngành giáo dục, xây dựng một nền giáo dục lành mạnh”[10].
Khắc phục bệnh kinh nghiệm và bệnh giáo điều
[edit]Bệnh kinh nghiệm và bệnh giáo điều là những biểu hiện khác nhau của sự vi phạm nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn.
Bệnh kinh nghiệm là tuyệt đối hoá những thành công trong hoạt động thực tiễn trước đây thành nguyên tắc hoạt động trong hiện tại khi những yếu tố và điều kiện đã thay đổi. Bệnh kinh nghiệm xuất phát từ tri thức kinh nghiệm. Tri thức kinh nghiệm là trình độ thấp của tri thức. Tri thức này chỉ khái quát thực tiễn cụ thể với những yếu tố và điều kiện đơn giản, chưa biến đổi hoặc đã biến đổi nhưng chưa được phản ánh kịp thời. Những tri thức kinh nghiệm góp phần tạo nên những thành công không nhỏ, đặc biệt thành công trong quá khứ đã củng cố niềm tin để tiếp tục khẳng định giá trị của các kinh nghiệm. Những thành công tiếp theo khi tiếp tục vận dụng những kinh nghiệm cũ vào hiện tại đã tạo nên chủ nghĩa kinh nghiệm. Khi các yếu tố, các điều kiện đã thay đổi hoặc có những diễn biến phức tạp nhưng vẫn tiếp tục vận dụng kinh nghiệm cũ thì nó trở thành bệnh kinh nghiệm.
Nước ta là nước nông nghiệp lạc hậu, trình độ khoa học và công nghệ rất thấp. Đó là thực trạng của một nền kinh tế truyền thống - nền kinh tế chỉ dựa vào kinh nghiệm được truyền từ đời này sang đời khác bằng hình thức dân gian. Điều đó dẫn đến phong cách tư duy, phong cách hoạt động của người Việt Nam chủ yếu dựa vào kinh nghiệm. Truyền thống đó là một trong những nguyên nhân sâu xa của bệnh kinh nghiệm. Cơ chế kế hoạch hoá, tập trung, bao cấp thực hiện một thời gian dài ở nước ta đã triệt tiêu tính sáng tạo của người lao động và tạo nên tâm lí ỉ lại, dựa dẫm là một trong những nguyên nhân của bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa - tuyệt đối hoá kinh nghiệm của thế hệ trước, của cấp trên. Cơ chế hoạt động của từng lĩnh vực chưa được luật hoá, việc tổ chức thực hiện tuỳ tiện dẫn đến chủ nghĩa kinh nghiệm.
Kinh nghiệm có thể mang lại thành công. Những kinh nghiệm đó đáng được trân trọng. Nhưng quá đề cao kinh nghiệm để trở thành căn bệnh thì rất nguy hiểm. Tiếp tục vận dụng kinh nghiệm khi các yếu tố, các điều kiện đã thay đổi để dẫn đến thất bại kéo dài, thậm chí sụp đổ thần tượng sẽ làm mất lòng tin với lớp người đã có nhiều công lao với dân tộc, với đất nước. Đó là một trong những tội lỗi.
Để khắc phục bệnh kinh nghiệm có hiệu quả, một mặt phải quán triệt sâu sắc nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, tức là bám sát thực tiễn, tăng cường học tập nâng cao trình độ lý luận, bổ sung, vận dụng lý luận phù hợp. Mặt khác, phải triệt để thực hiện cơ chế thị trường. Nền kinh tế thị trường đề cao thành công hiện tại, quá khứ mang tính tham khảo. Do đó không có chỗ cho bệnh kinh nghiệm tồn tại. Khi thị trường hoá toàn bộ các yếu tố của quá trình sản xuất cũng như các lĩnh vực xã hội thì sẽ khắc phục triệt để bệnh kinh nghiệm.
Trái với bệnh kinh nghiệm, bệnh giáo điều lại tuyệt đối hoá lý luận hoặc tuyệt đối hoá lòng tin khi các yếu tố và các điều kiện đã thay đổi.
Biểu hiện của bệnh giáo điều là chỉ hiểu lý luận theo một số nghĩa căn bản nào đó, chỉ "tầm chương trích cú", bỏ qua sự vận động, phát triển, biến đổi của thực tiễn cũng như bản thân lý luận, coi chân lí đã được hình thành là bất di bất dịch; chưa hiểu tính cụ thể, tính tương đối, tính tuyệt đối của chân lí. Người mắc bệnh giáo điều chỉ căn cứ vào "câu, chữ" mà chưa hiểu được bản chất đích thực của chúng; hoặc vận dụng chúng như "chiếc bùa hộ mệnh" để bảo vệ sự hiểu biết trống rỗng của mình. Thực chất của bệnh giáo điều là xa rời thực tiễn, chưa coi trọng vai trò của thực tiễn. Mặt khác, do chủ thể hoạt động ngại nghiên cứu, vận dụng lý luận vào thực tế, ngại bám sát thực tiễn, không thường xuyên tổng kết thực tiễn. Thực hiện rập khuôn, máy móc mô hình tổ chức bộ máy nhà nước, cơ chế quản lí kinh tế, quản lí xã hội của nước khác vào nước mình cũng là một trong những biểu hiện của bệnh giáo điều.
Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ đang làm biến đổi thế giới trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội nhưng chúng ta vẫn giữ cơ chế cũ, tư duy cũ cũng là một khía cạnh của bệnh giáo điều.
Một trong những nội dung của tiến bộ xã hội là vấn đề thực hiện công bằng, bình đẳng giữa các tầng lớp, giữa các giai cấp trong xã hội; nhưng phân phối lao động theo hình thức bình quân là một biểu hiện của bệnh giáo điều.
Bệnh giáo điều có căn nguyên sâu xa của nó. Trước hết là do hiểu lý luận còn nông cạn, chưa có thực tiễn vận dụng lý luận nên khi thực tiễn biến đổi hoặc xuất hiện thực tiễn mới thì lý luận trở thành giáo điều. Mặt khác, do tính tập trung hoá cả trong lĩnh vực lý luận đã làm mất đi tính sáng tạo, sinh động của lý luận. Quá trình đó lặp đi lặp lại một thời gian dài đã trở thành đường mòn trong tư duy của cán bộ kể cả cán bộ khoa học. Những gì trên chưa khái quát, chưa có ý kiến hoặc chưa được bổ sung bởi cơ quan có thẩm quyền đều bị phủ quyết tạo cho cán bộ bệnh giáo điều. Thứ nữa, do vận dụng sai lý luận vào thực tiễn. Vận dụng lý luận vào hoạt động thực tiễn là một trong những yêu cầu cơ bản của nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, đồng thời là vận dụng cái chung vào cái riêng một cách linh hoạt. Bệnh giáo điều chỉ biết trích dẫn, thậm chí chỉ vận dụng lý luận nhưng không quan tâm đến thực tiễn, không bổ sung, điều chỉnh lý luận.
Bệnh giáo điều đặc biệt nguy hiểm. Do giáo điều mà lý luận không mang lại hiệu quả cho hoạt động thực tiễn, dẫn đến mất lòng tin đối với vai trò của lý luận nói chung, đối với chủ nghĩa Mác - Lênin cũng như đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam nói riêng. Đó là một trong những căn nguyên dẫn đến sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở một số nước, dẫn đến khủng hoảng (mất lòng tin) đối với chủ nghĩa Mác - Lênin, đối với sự lãnh đạo của Đảng.
Để khắc phục bệnh giáo điều, chúng ta phải quán triệt sâu sắc sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn mà cốt lõi là thực tiễn luôn luôn là tiêu chuẩn chân lí của lý luận như triết học Mác - Lênin đã khái quát cách đây hơn một thế kỉ. Tuy vậy, lý luận vẫn có ý nghĩa quan trọng của nó. Chính vì vậy, Hồ Chí Minh đã nói: “Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một nguyên tắc căn bản của chủ nghĩa Mác - Lênin. Thực tiễn không có lý luận hướng dẫn thì thành thực tiễn mù quáng. Lý luận mà không liên hệ với thực tiễn là lý luận suông”[11].
Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một trong những nội dung cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin nói chung, triết học Mác - Lênin nói riêng. Đây không chỉ là nguyên tắc được đề xuất trong nhận thức luận mà còn là lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin cho quá trình hình thành tri thức khoa học, tri thức lý luận và phương pháp luận cho hoạt động cải tạo hiện thực khách quan vì mục đích của con người.
Tham khảo
[edit]- ↑ Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội 2001, tr. 84.
- ↑ Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị Ban chấp hành trung ương khoá IX, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội 2002, tr. 133.
- ↑ Đảng Cộng sản Việt Nam: Sđd, tr. 133.
- ↑ C. Mác và Ph. Ăngghen: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội 1995, tập 4, tr. 339
- ↑ Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội 2001, tr.83.
- ↑ Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội 2001, tr.83.
- ↑ Đảng Cộng sản Việt Nam: Sđd, tr.84.
- ↑ Đảng Cộng sản Việt Nam: sđd, tr. 295-296.
- ↑ Đảng Cộng sản Việt Nam: sđd, tr. 201-202.
- ↑ Đảng Cộng sản Việt Nam: sđd, tr. 292-294.
- ↑ Hồ Chí Minh: Diễn văn khai mạc lớp học lý luận khoá I trường Nguyễn Ái Quốc, Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tập 1, tr.496.