Triết học không chuyên/7/Phạm trù thực tiễn và phạm trù lí luận
Phạm trù thực tiễn
[edit]Vấn đề hoạt động của con người đã được các nhà triết học nêu lên trong học thuyết nhận thức thời kì cổ đại. Họ cho rằng giai đoạn nhận thức cảm tính gắn bó chặt chẽ với hoạt động của con người. Song, đó là hoạt động nhận thức đối tượng để hình thành chân lí. Tuy vậy, họ chưa giải quyết vấn đề hình thành, phát triển và cấu trúc của quá trình hoạt động đó. Thế nhưng, họ là những người đặt nền móng cho vấn đề hoạt động của con người trong quá trình nhận thức.
Phranxi Bêcơn - nhà triết học duy vật Anh, người đặt nền móng cho sự phát triển của chủ nghĩa duy vật siêu hình thế kỉ XVII-XVIII, khi đề cao vai trò của tri thức, ông đã nhấn mạnh nhiệm vụ của triết học là tìm ra con đường nhận thức giới tự nhiên. Theo ông, quá trình nhận thức phải kiên quyết chống chủ nghĩa kinh viện, chủ nghĩa kinh nghiệm. Nhận thức phải xuất phát từ giới tự nhiên và thực tiễn để tìm ra mối quan hệ nhân quả, phát hiện và kiểm tra chân lí. Có thể nói, Phranxi Bêcơn là nhà triết học đầu tiên thấy được vai trò của thực tiễn, của thực nghiệm khoa học trong quá trình nhận thức, trong quá trình hình thành tri thức.
Do tác động của giai đoạn tiền kinh tế thị trường ở Đức cuối thế kỉ XVIII, đầu thế kỉ XIX, Phoiơbắc, một trong những nhà triết học duy vật trước Mác đã đề cập đến thực tiễn, nhưng đối với ông, chỉ có lý luận mới thực sự là hoạt động chân chính của con người, còn thực tiễn mang tính chất con buôn bẩn thỉu.
Tuy đối lập với các nhà triết học duy vật trong cách giải quyết vấn đề cơ bản của triết học, nhưng các nhà triết học duy tâm lại thấy được tính năng động, sáng tạo trong hoạt động của con người. Song, họ lại tuyệt đối hoá quá trình hoạt động đó. Hêghen, nhà triết học duy tâm lớn nhất trước Mác đã có một số tư tưởng hợp lý, sâu sắc về thực tiễn. Ông cho rằng, bằng thực tiễn, chủ thể tự "nhân đôi" mình, đối tượng hoá bản thân mình trong quan hệ với thế giới bên ngoài, nhưng ông chỉ giới hạn thực tiễn ở ý niệm, ở hoạt động tư tưởng. Đối với Hêghen, thực tiễn là một "suy lý lôgíc".
Các nhà triết học duy vật trước Mác cho rằng quá trình hình thành ý thức của con người mang tính thụ động hoặc tính bản năng. Do đó, nhận thức luận của họ còn nhiều hạn chế. Chính vì vậy, C. Mác đã đánh giá: "Khuyết điểm chủ yếu của toàn bộ chủ nghĩa duy vật từ trước đến nay - kể cả chủ nghĩa duy vật của Phoiơbắc là sự vật, hiện thực, cái cảm giác được, chỉ được nhận thức dưới hình thức khách thể hay hình thức trực quan, chứ không được nhận thức là hoạt động cảm giác của con người, là thực tiễn"[1].
Sự phát triển của khoa học thời cận đại, đặc biệt với việc ra đời ngành khoa học thực nghiệm đã thực sự là cuộc cách mạng trong nhận thức luận. Theo đó, mỗi chân lí khoa học phải được chứng minh bằng thực nghiệm.
Có thể nói, tuy các nhà triết học, các nhà khoa học trước Mác chưa đặt ra vai trò của thực tiễn đối với nhận thức nhưng vai trò của thực nghiệm trong khoa học lại được đề cập đầu tiên và thực sự là một trong những tiền đề đặt nền tảng cho quan niệm thực tiễn của triết học Mác.
Dựa vào những thành tựu của khoa học nói chung và khoa học tự nhiên nói riêng, cùng với hoạt động của các ông trong phong trào đấu tranh của quần chúng lao động, C. Mác Ph. Ăngghen đã có công lớn trong việc đưa thực tiễn vào nhận thức luận. Không những thế, cả lý luận và thực tiễn đều được các ông nâng lên trình độ mới: thực tiễn cách mạng và lý luận cách mạng. Nhờ đó, lý luận gắn bó chặt chẽ với thực tiễn, trở thành vũ khí nhận thức và cải tạo thế giới. Với việc đưa phạm trù thực tiễn vào lý luận của mình, C. Mác và Ph. Ăngghen đã thực hiện một bước chuyển biến cách mạng trong lý luận nói chung và trong nhận thức luận nói riêng.
Thực tiễn là toàn bộ hoạt động vật chất mang tính lịch sử - xã hội nhằm cải tạo hiện thực khách quan phù hợp mục đích của con người.
Hoạt động của con người bao gồm hoạt động vật chất và hoạt động tinh thần. Thực tiễn là hoạt động vật chất (C. Mác: hoạt động "cảm tính"). Hoạt động vật chất là những hoạt động mà chủ thể sử dụng phương tiện vật chất tác động vào đối tượng nhằm tạo ra sản phẩm nhất định nào đó. Đối tượng hoạt động của con người là thế giới khách quan. Con người sử dụng các phương tiện để tác động vào đối tượng theo những hình thức và mức độ khác nhau tuỳ thuộc mục đích của con người. Kết quả của quá trình hoạt động thực tiễn là những sản phẩm vật chất và sản phẩm tinh thần. Như vậy, hoạt động vật chất là những hoạt động mà đối tượng, phương tiện và kết quả của quá trình hoạt động được cảm nhận bằng các giác quan của con người. Mỗi một hoạt động của con người đều mang tính lịch sử, cụ thể. Nó chỉ diễn ra trong một giai đoạn nhất định nào đó. Nó có quá trình hình thành, phát triển và kết thúc hoặc chuyển hoá sang giai đoạn khác; không có hoạt động thực tiễn nào tồn tại vĩnh viễn. Mặt khác, hoạt động thực tiễn chịu sự chi phối của mỗi giai đoạn lịch sử cả về đối tượng, phương tiện cũng như mục đích hoạt động.
Hoạt động của con người có thể do một cá nhân hay một cộng đồng thực hiện. Dù hoạt động đó chỉ đáp ứng nhu cầu cho một cá nhân, song, nó vẫn tham gia giải quyết những vấn đề chung của xã hội. Mặt khác, do nhu cầu của xã hội mà xuất hiện một hoạt động cụ thể nào đó. Trong xã hội hiện đại, hoạt động của bất kì cá nhân nào cũng mang tính xã hội, thông qua xã hội để thực hiện mục đích của mình. Do đó mà hoạt động thực tiễn của con người vừa được thực hiện trong cộng đồng, vì cộng đồng, do cộng đồng.
Hoạt động thực tiễn mang tính tất yếu, nhưng tất yếu có nhận thức, có ý thức. Đó là ý thức về kết quả, ý thức về phương pháp, ý thức về đối tượng... Đặc biệt là ý thức về mục đích của quá trình hoạt động. Mục đích của hoạt động thực tiễn là nhằm thoả mãn những nhu cầu vật chất và tinh thần của cá nhân và xã hội. Mỗi một hoạt động đều có mục đích khác nhau để giải quyết nhu cầu cụ thể, không có hoạt động nào không có mục đích, mặc dù kết quả của hoạt động thực tiễn không phải lúc nào cũng diễn ra phù hợp ý thức của con người.
Hoạt động thực tiễn của con người ngày càng phong phú và đa dạng. Song, có thể khái quát gồm hoạt động sản xuất vật chất, hoạt động chính trị- xã hội, hoạt động thực nghiệm khoa học.
Hoạt động sản xuất vật chất là hoạt động đầu tiên và cơ bản nhất. Nó hình thành từ khi con người nhận thức được năng lực của chính mình. Nó tồn tại và phát triển cùng với sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người. Hoạt động sản xuất vật chất là quá trình con người sử dụng phương tiện vật chất tác động vào tự nhiên để tạo ra sản phẩm đáp ứng nhu cầu của mình. Hoạt động sản xuất vật chất vừa là nhu cầu, vừa là tất yếu đối với sự tồn tại của con người. Thông qua hoạt động sản xuất vật chất mà con người hoàn thiện mình cả về mặt tự nhiên, lẫn mặt xã hội.
Hoạt động chính trị - xã hội là hoạt động của con nhằm biến đổi các mối quan hệ xã hội, các hình thái kinh tế - xã hội theo hướng tiến bộ. Hoạt động chính trị - xã hội không chỉ thể hiện nhu cầu bình đẳng về vật chất mà còn thể hiện nhu cầu bình đẳng về tinh thần của con người. Thông qua hoạt động chính trị - xã hội mà con người chuyển biến từ “vương quốc tất yếu” sang “vương quốc của tự do”.
Hoạt động thực nghiệm khoa học là quá trình vận dụng các yếu tố theo những phương pháp khác nhau nhằm chứng minh những giả thuyết, những kết luận để hình thành chân lí hoặc đề xuất chân lí. Hoạt động thực nghiệm khoa học làm đơn giản hoá quá trình nhận thức, giúp con người tăng khả năng khám phá hiện thực khách quan, hiện thực hóa khả năng nhận thức của con người.
Các hình thức hoạt động thực tiễn tuy có sự khác nhau tương đối nhưng chúng mang tính thống nhất. Chúng đều có chung chủ thể hoạt động, có cùng mục đích; chúng hỗ trợ, ảnh hưởng lẫn nhau. Do đó, sự phân biệt giữa các hình thức hoạt động thực tiễn mang tính tương đối. Hoạt động sản xuất vật chất không thể không hoạt động trong cộng đồng xã hội, không thể không có vai trò của thực nghiệm khoa học. Mặc dù hoạt động chính trị - xã hội trực tiếp tác động đến những vấn đề của đời sống chính trị tinh thần kết quả của lĩnh vực này tác động tích cực đến phát triển sản xuất, phát triển kinh tế - xã hội, cũng như những vấn đề có tính quy luật mà hoạt động thực nghiệm khoa học đang quan tâm. Cũng như vậy, hoạt động thực nghiệm khoa học không thể không lấy mục đích phục vụ kinh tế - xã hội.
Trong các hình thức hoạt động thực tiễn thì hoạt động sản xuất vật chất là cơ bản nhất. Mặc dù các hoạt động chính trị - xã hội, hoạt động thực nghiệm khoa học vẫn diễn ra thường xuyên, quan trọng nhưng hoạt động sản xuất vật chất tác động sâu sắc, toàn diện đến các hoạt động khác, nó là hoạt động trung tâm, chủ yếu của con người.
Trên cơ sở những hình thức thực tiễn cơ bản trên, một số lĩnh vực của thực tiễn như giáo dục đạo đức, hoạt động nghệ thuật, hoạt động giáo dục, hoạt động tôn giáo... cũng được hình thành. Nó cũng tác động vào quá trình tồn tại và phát triển của xã hội. Đó là những hình thức thực tiễn phát sinh, hình thức đặc thù của thực tiễn.
Con người thông qua hoạt động để thoả mãn những nhu cầu tất yếu của mình. Chính từ những nhu cầu đó mà con người tác động vào tự nhiên và xã hội cũng như tác động vào chính bản thân con người. Hoạt động thực tiễn đầu tiên của con người là tác động vào tự nhiên. Quá trình đó vừa để khai thác tự nhiên, nhận thức tự nhiên, vừa chinh phục tự nhiên đồng thời để cải tạo tự nhiên. Tự nhiên là những yếu tố tồn tại khách quan, tự nó. Chúng vừa tồn tại hỗn độn, vừa tồn tại theo trật tự; vừa chịu sự chi phối của tất yếu vừa chịu sự chi phối của ngẫu nhiên. Trong sự vận động không ngừng đó, có những yếu tố tĩnh tại tương đối, có những yếu tố luôn luôn biến đổi. Con người và xã hội loài người vừa là chủ thể, vừa là khách thể của quá trình biến đổi đó.
Thuở ban đầu, hoạt động của con người mang tính bản năng. Nhưng sự phát triển của loài người đã tác động vào chính hoạt động của con người. Từ bản năng con người chuyển sang hoạt động tự giác - tự ý thức về hoạt động của mình. Khi có ý thức tham gia vào hoạt động, mỗi sự tác động của con người vào tự nhiên đều mang tính mục đích. Những hoạt động đó không chỉ thoả mãn nhu cầu trực tiếp, thiết thực của con người mà còn bảo đảm phát triển nói chung. Khai thác tự nhiên, chinh phục tự nhiên, bảo vệ tự nhiên, tái tạo tự nhiên là quá trình đan xen, ảnh hưởng, chi phối, hỗ trợ lẫn nhau trong hoạt động của con người. Quá trình đó giúp con người biết chung sống với tự nhiên. Trong lịch sử nhận thức, không phải lúc nào cũng được hiểu một cách nghiêm túc chức năng của thực tiễn, chính vì vậy, Ph. Ăngghen nhận xét rằng: “Từ trước tới nay, khoa học tự nhiên cũng như triết học đã hoàn toàn coi thường ảnh hưởng của hoạt động con người đối với tư duy của họ. Hai môn ấy, một mặt chỉ biết có tự nhiên, mặt khác chỉ biết có tư tưởng. Nhưng chính việc người ta biến đổi tự nhiên, chứ không phải một mình giới tự nhiên, với tính cách giới tự nhiên, là cơ sở chủ yếu nhất và trực tiếp nhất của tư duy con người, và trí tuệ con người đã phát triển song song với việc người ta học cải biến tự nhiên”[2].
Cải tạo tự nhiên đồng thời cải tạo chính bản thân chủ thể hoạt động là chức năng của hoạt động thực tiễn. Bằng hoạt động của mình, con người vừa khai thác tự nhiên vừa nhận thức tự nhiên để cùng chung sống và tái tạo tự nhiên theo nguyên tắc cân bằng, hài hoà giữa tự nhiên, xã hội và con người.
Phạm trù lý luận
[edit]“Lý luận là kinh nghiệm đã được khái quát trong ý thức của con người, là toàn bộ tri thức về thế giới khách quan, là hệ thống tương đối độc lập của các tri thức có tác dụng tái hiện trong lôgíc của các khái niệm cái lôgíc khách quan của các sự vật”[3].
Nói cách khác, lý luận là hệ thống những tri thức được khái quát từ thực tiễn, phản ánh những mối liên hệ bản chất, những tính quy luật của thế giới khách quan. Lý luận được hình thành không phải ở bên ngoài thực tiễn mà trong mối liên hệ với thực tiễn. Giữa lý luận và thực tiễn có mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại, trong đó, thực tiễn giữ vai trò quyết định.
Lý luận được hình thành trên cơ sở của quá trình nhận thức, nhưng không phải là quá trình nhận thức trực tiếp đối tượng mà nó mang tính gián tiếp. Tức là quá trình hình thành lý luận chỉ thông qua quá trình trừu tượng hoá, khái quát hoá. Quá trình đó diễn ra trên cơ sở kết quả của tri thức khoa học.
Để hình thành tri thức khoa học, con người phải thông qua quá trình nhận thức kinh nghiệm. Nhận thức kinh nhiệm là quá trình quan sát sự lặp đi, lặp lại diễn biến của các sự, vật hiện tượng để vận dụng vào hoạt động khi các yếu tố và điều kiện chưa thay đổi hay trong những quan hệ đơn giản. Kết quả của nhận thức kinh nghiệm là tri thức kinh nghiệm. Tri thức kinh nhiệm bao gồm tri thức kinh nghiệm thông thường và tri thức kinh nhiệm khoa học. Tri thức kinh nghiệm thông thường (tiền khoa học) thu được thông qua quá trình quan sát trực quan quá trình sinh hoạt và lao động hàng ngày của con người. Nó giúp con người giải quyết nhanh một số vấn đề cụ thể, đơn giản trong quá trình tác động trực tiếp đối tượng. Tri thức kinh nghiệm khoa học là kết quả của quá trình thực nghiệm khoa học. Nó đòi hỏi chủ thể phải tích luỹ một lượng tri thức cơ bản trong hoạt động sản xuất cũng như hoạt động khoa học mới có thể hình thành tri thức kinh nghiệm khoa học. Tri thức kinh nghiệm khoa học giúp các nhà khoa học hoặc những hoạt động khoa học hợp lí hoá thí nghiệm, thực nghiệm, thúc đẩy nhanh quá trình hình thành tri thức khoa học. Tri thức kinh nghiệm tuy là thành tố của tri thức nhưng ở trình độ thấp. Thế nhưng, nó là cơ sở để hình thành tri thức khoa học.
Nhận thức khoa học là quá trình phân tích cấu trúc, chức năng, tính chất, mối quan hệ giữa các yếu tố trong những điều kiện cụ thể để khái quát thành tri thức khoa học. Nhận thức khoa học bao gồm hai giai đoạn: giai đoạn nhận thức cảm tính và giai đoạn nhận thức lí tính. Giai đoạn nhận thức cảm tính có các hình thức: cảm giác, tri gác và biểu tượng. Ở giai đoạn này tri thức mang tính hiện tượng, bề ngoài, chưa đi sâu vào bản chất của sự vật, hiện tượng nhưng là cơ sở cho giai đoạn nhận thức cao hơn. Giai đoạn nhận thức lí tính là giai đoạn tiếp theo của quá trình nhận thức. Giai đoạn này có các hình thức: khái niệm, phán đoán, suy lí. Nhờ các thao tác này mà quá trình nhận thức tách khỏi đối tượng nhưng vẫn bảo đảm tính chân lí của tri thức. Kết quả của quá trình nhận thức khoa học là tri thức khoa học. Tri thức khoa học bao gồm tri thức khoa học tự nhiên, tri thức khoa học xã hội. Tri thức khoa học được biểu thị bằng các quy luật. Tri thức khoa học phản ánh mối quan hệ giữa các yếu tố trong những điều kiện nhất định để khái quát khuynh hướng tồn tại, vận động, phát triển và biến đổi cơ bản của các sự vật, hiện tượng, của các trạng thái vật chất. Tri thức khoa học cung cấp cho con người phương pháp hoạt động nhận thức và cải tạo hiện thực khách quan một cách khoa học. Về bản chất, lý luận cũng là tri thức khoa học. Nhận thức lý luận là quá trình trừu tượng hoá, khái quát hoá cái hiện tượng, cái bề ngoài của các sự vật, hiện tượng, của thực tiễn để hình thành những nguyên lí, những quy luật mang tính phương pháp. Nhận thức lý luận mang tính gián tiếp; tính trừu tượng; tính khái quát; tri thức sâu sắc hơn, hệ thống hơn.
Tri thức lý luận định hướng hình thành tri thức khoa học, tri thức kinh nghiệm; tuyển chọn kinh nghiệm hợp lí vận dụng vào hoạt động thực tiễn; khẳng định giá trị của kinh nhiệm để khái quát thành cái phổ biến.
Lý luận có những cấp độ khác nhau tuỳ phạm vi phản ánh và vai trò phương pháp luận của nó để có thể phân chia thành các cấp độ. Sự phân chia này mang tính tương đối.
Theo lịch sử hình thành của nó, lý luận cũng có thể được quan niệm là lí thuyết để phân biệt với thực hành. Ở cấp độ này, lý luận thuần tuý ghi chép lại kết quả thực hành; do đó, lý luận mang nặng tri thức kinh nghiệm.
Lý luận ngành là lý luận được khái quát từ những quy luật hình thành và phát triển của một ngành. Nó là cơ sở để sáng tạo tri thức cũng như phương pháp luận cho hoạt động của ngành đó. Như lý luận toán học, lý luận sinh học, v.v..
Lý luận triết học là thông qua tri thức khoa học về hiện thực khách quan để hình thành lý luận chung nhất - tri thức triết học làm cơ sở cho thế giới quan và phương pháp của cá nhân hoặc cộng đồng. Nhưng không phải mọi hệ thống triết học đều đạt đến tri thức lý luận hay tri thức chung nhất. Những hệ thống triết học phản ánh sai hiện thực khách quan thì không thể đồng nhất tri thức triết học đó với tri thức lý luận chung nhất. Lý luận chung nhất chỉ đạt được trong phép biện chứng duy vật, trong triết học duy vật biện chứng.
Do quá trình hình thành và bản chất của nó, lý luận có hai chức năng cơ bản là chức năng phản ánh hiện thực khách quan và chức năng phương pháp cho hoạt động thực tiễn. Lý luận phản ánh hiện thực khách quan bằng những quy luật chung hay chung nhất. Nó lược bỏ những yếu tố ngẫu nhiên hoặc cái riêng để hình thành những quy luật chung về quá trình tồn tại, vận động, phát triển và biến đổi của hiện thực khách quan. Tri thức kinh nghiệm, tri thức khoa học cũng như tri thức lý luận đều phản ánh hiện thực khách quan nhưng ở những trình độ khác nhau. Tri thức lý luận phản ánh hiện thực khách quan để làm phương pháp luận nhận thức và cải tạo hiện thực khách quan.
Chức năng phương pháp luận của lý luận (hay tri thức lý luận) cho quá trình hoạt động thực tiễn ở trình độ chung hay chung nhất. Đó vừa là chức năng phương pháp luận cho hoạt động nhận thức, vừa là chức năng cho hoạt động cải tạo hiện thực khách quan. Có phương pháp luận chung nhất, phương pháp luận chung và phương pháp luận chuyên ngành. Mỗi cấp độ phương pháp luận có vai trò và hiệu quả khác nhau trong quá trình hoạt động. Mỗi lĩnh vực cụ thể đều có phương pháp luận cụ thể. Phương pháp luận cụ thể chỉ đúng khi không đối lập với phương pháp luận chung hay chung nhất.