Jump to content

Bà la môn giáo

From Wikiversity

Bà la môn giáo là một tôn giáo Ấn độ đựoc hình thành vào khoảng 800 năm trước Tây lịch . Đạo Bà-La-Môn thờ Đấng Brahma (Thượng đế) là Đấng tối cao tối linh, là linh hồn của vũ trụ. Đạo Bà-La-Môn đưa ra những kinh sách giải thích và bình luận Kinh Vệ đà như: Kinh Brahmana (Phạm thư) , Kinh Upanishad (Áo nghia thư), Giải thích về Maya (tức là Thế giới ảo ảnh) và về Niết bàn.


Lịch sử hình thành và phát triển Bà-la-môn giáo

[edit]

Bàlamôn giáo là sự tiếp tục Vệ đà giáo (Veda) vào khoảng 800 năm trước Tây lịch . Trong tay của các Bà-la-môn, bộ môn tế lễ không cần thần thánh nữa . Trong thời đoạn người ta không cần thần thánh nữa và Phệ-đà giáo trở thành là Bà-la-môn giáo.

Quy định Bà-la-môn giáo

[edit]

Giai cấp xã hội

[edit]

Đạo Bà-La-Môn phân chia xã hội Ấn Độ làm 5 giai cấp. Ai sinh ra trong giai cấp nào thì phải ở mãi trong giai cấp đó suốt đời.

1. Giai cấp Tăng lữ Bà-La-Môn

tự cho rằng họ được sinh ra từ miệng của Đấng Phạm Thiên (Brahma), nên họ được quyền giữ địa vị tối cao trong xã hội, độc quyền cúng tế Thượng Đế và các Thần linh.

2. Giai cấp Sát-Đế-Lỵ

được sinh ra từ vai của Đấng Phạm Thiên. Giai cấp này gồm các bậc vua chúa, quí tộc, trưởng giả, công hầu khanh tướng. Họ nắm quyền cai trị và thưởng phạt dân chúng.

3. Giai cấp Phệ-Xá

được sinh ra từ hông của Đấng Phạm Thiên. Giai cấp này gồm các nhà thương mại, các trại chủ giàu có. Họ nắm kinh tế, chuyên môn mua bán làm ăn với các từng lớp dân chúng trong xã hội.

4. Giai cấp Thủ-Đà-La

được sinh ra từ chân của Đấng Phạm Thiên. Giai cấp này gồm các nông dân và công nhân nghèo khổ.

5. Giai cấp Chiên-Đà-La .

Giai cấp thấp kém nhất trong xã hội Ấn Độ, gồm các người làm các nghề hèn hạ như: Ở đợ, làm mướn, chèo ghe, giết súc vật, vv …

Giáo chức

[edit]

Giới Tăng lữ Bà-La-Môn được chia làm 3 bậc: Sơ khởi, Trung và Thượng.

1. Sơ khởi

là những vị Sư cúng lễ thường và những vị phục sự nơi đền chùa. Họ tụng 3 Bộ Kinh Véda đầu, gồm: Rig Véda, Yayur Véda, Sama Véda. Họ hành lễ, chứng lễ các cuộc cúng tế, nên thường trực tiếp với dân chúng.

2. Bậc trung

là những vị Sư bói toán, tiên tri, thỉnh Quỉ Thần, thỉnh thoảng họ làm vài phép linh cho dân chúng phục. Hạng này đọc và giảng giải Bộ Kinh Véda thứ tư là Atharva Véda. Bộ Kinh thứ tư này có nội dung cao hơn 3 Bộ Kinh trước và có những câu Thần chú.

3. Bậc thượng

là những vị Sư nghiên cứu, gồm các vị sư không còn trực tiếp với dân chúng. Hạng này chuyên nghiên cứu các lực vô hình trong vũ trụ.

Hạng Bà-La-Môn sơ khởi phải tu học 20 năm mới lên hạng trung. Hạng trung tu học 20 năm mới lên hạng thượng.Trên hết là một vị sư chưởng quản tôn giáo làm Giáo Chủ. Vị Giáo Chủ này có 70 vị sư phụ tá.

10 Giơi răn

[edit]

Giáo lý Bàlamôn được cụ thể hóa thành 10 giới răn (chuẩn mực đạo đức)

  1. không sát sinh (ahimsa)
  2. không nói dối (satya)
  3. không trộm cắp (asteya)
  4. biết kiềm chế dục vọng và ham muốn (brahmacharya)
  5. không tham lam (aparigraha)
  6. sạch sẽ, tinh khiết (saucha)
  7. biết bằng lòng (santosha)
  8. kỷ luật với bản thân (tapas)
  9. phải học tập (svadhyaya)
  10. vâng phục mệnh trời (ishvara pranidhana).

Triết học Bà la môn

[edit]

Mục đích sống đời người

[edit]

Đời người có 4 mục đích sống

  • Dharma - hoàn thành các nghĩa vụ luân lý, luật pháp và tôn giáo
  • Artha - mưu sinh và thành đạt trong xã hội
  • Kama - thỏa mãn các ham muốn nhưng biết tiết chế và điều độ
  • Moksa - giải thoát khỏi vòng luân hồi bằng cách giải trừ hết các nghiệp (karma) vì khi chết mà vẫn còn nghiệp thì phải chịu tái sinh vào kiếp sau ở thế gian, tức là luân hồi (samsara).

Lối sống đời người

[edit]

Đời người phải trải qua 4 giai đoạn

  1. Brahmacharga (học tập);
  2. Grhastha (lập gia đình, tạo sự nghiệp);
  3. Vanaprastha (hướng về tâm linh);
  4. Sanrgasu (thoát ly xã hội để tu hành).

Tiêu chuẩn đạo đức

[edit]

Bàlamôn giáo cũng góp phần hoàn thiện một số chuẩn mực đạo đức và nhân phẩm như

Ghi nhớ 3 trọng ân

[edit]
  1. Ơn đấng Phạm Thiên,
  2. Ơn thầy,
  3. Ơn tổ tiên

Cân bằng 3 phương diện

[edit]
  1. sùng tín (bhaktimarga)
  2. phụng sự (karmamarga)
  3. trí tuệ/minh triết (jnanamarga)

Nghi lễ Bà la môn giáo

[edit]

Về nghi lễ tôn giáo, kế thừa từ Veda giáo, Bàlamôn giáo cũng tiếp tục nhiều thánh lễ, mà sau đó Hindu giáo cũng tiếp tục duy trì đến nay. Một số thánh lễ chính như

Giữa tháng 2 tôn thờ thần Shiva

Lễ hội màu sắc

Kỷ niệm ngày sinh của thần Ram

10 ngày liên tục trong đầu tháng 11 vừa tôn vinh nữ thần Navaratri, vừa kỷ niệm chúa Rama chiến thắng quỷ Ravana, đồng thời kỷ niệm chiến thắng của nữ thần Durga đối với trâu quỷ Mahishasura

Lễ ánh sáng với nến đèn, đốt pháo trong 3 giờ liền để kỷ niệm thời khắc chúa Ram đưa vợ là nàng Sita trở về.

Đến nay, nhiều nghi lễ này vẫn được Hindu giáo duy trì với tư cách là bản sắc văn hóa, tôn giáo của người Hindu.

Kinh sách Bà la môn giáo

[edit]

Về mặt kinh điển, tuy vẫn đặt Kinh Veda lên trên hết (như đã nói ở trên), song giai đoạn Bàlamôn giáo phát triển nhiều hơn về thần học và triết học. Tín đồ Hindu giáo tin rằng thánh điển Veda không phải do con người sáng tác ra mà được khải thị cho các bậc hiền triết Bàlamôn rồi được truyền miệng qua các đời cho đến ngày nay. Các kinh điển được hoàn thiện trong thời kỳ này như:

Kinh Phạm Thư (Brahmana)

[edit]

Kinh Phạm Thư (Brahmana) được viết bằng văn xuôi, khi hệ thống 4 giai cấp trong xã hội Ấn Độ đã định hình và giai cấp Bàlamôn cũng đã khẳng định được vị trí tối cao trong xã hội.


Mang tính thần học cao, chủ yếu giải thích ý nghĩa sự linh thiêng trong các nghi lễ khác nhau, sắp xếp các chức năng cúng tế khác nhau cho các tầng lớp tăng lữ, quy định những nghi lễ và những hệ thống biểu tượng tâm linh. Đây là giai đoạn phát triển cao của Bàlamôn giáo nên Kinh này (cũng như trong luật Manu) khẳng định rõ tăng lữ Bàlamôn có đặc quyền làm tế tự.

Kinh Sân Lâm thư (Aryanka)

[edit]

Kinh Sân Lâm thư (Aryanka) được phát triển tiếp tục từ kinh Phạm Thư, song đặc biệt chỉ dành cho những vị đạo sĩ Bàlamôn tu kín trong rừng sâu.

Thay thế cho các kỹ thuật tế lễ, nội dung của Sân Lâm Thư chú trọng các kỹ thuật tập trung thiền định vào những biểu tượng tâm linh siêu việt. Các nghi thức tế lễ rườm rà dần được thay thế bởi các vấn đề suy nghiệm và tư duy triết học. Có lẽ Sâm Lâm thư là giai đoạn chuẩn bị cho sự ra đời Áo nghĩa thư (Upanishads) với nội dung tập trung vào triết học Hindu giáo nói riêng và của Ấn Độ nói chung

Kinh Áo Nghĩa Thư (Upanishad)

[edit]

Kinh Áo Nghĩa Thư (Upanishad) thực chất là tập hợp những bộ luận do giáo sĩ Bàlamôn triển khai các tư tưởng có trong kinh Veda trên phương diện thần học và mang tính triết học cao, như là phần cuối của Veda.

Upanishad được thực hiện trong một thời gian rất dài, bởi nhiều tác giả và đều không còn rõ danh tính. Upanishad là sự phát triển tiếp tục Veda, nó là phần kết của Veda và được coi là nền tảng cơ bản cho trường phái Vedanta. Tổng số có hơn 200 Upanishads, nhưng theo truyền thống người Ấn Độ nói là có 108 Upanishads. Trong đó có 10 cho đến 13 Upanishads cơ bản như: Isa, Kena, Katha, Prasna, Mundaka, Mandukya, Taittiriya, Aitareya, Chandogya và Brhadaranyaka15. Đây là những tác phẩm có nội dung thần học và triết học uyên thâm, thể hiện xu hướng nhất nguyên chỉ thờ một thần của Bàlamôn giáo.