Jump to content

Can

From Wikiversity

Trong âm lịch Trung quốc , Can được dùng để biểu thị Năm Âm lịch . Năm kết thúc bằng số nào thì có Can số đó.

Theo như truyền thuyết, vua Phục hy tìm ra được Hà đồ. Do quan sát các chấm đen trắng, nằm trên lưng con Long Mã, xuất hiện ở sông Hoàng Hà mà lập thành. Từ đó, vua Phục Hy chế ra Tiên Thiên Bát Quái.Trên Hà đồ có tất cả 10 con số , chia ra đứng theo các hành trong Ngũ Hành . Do đó, người xưa dùng con số 10 để chế ra Thập Thiên Can , 10 can , dùng dể chỉ phương hướng . Thập Thiên Can bao gồm 10 can có tên gọi như sau Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý


Thiên can âm dương ngũ hành

[edit]

Thiên Can được phối hợp với Âm dương và Ngũ hành, để ứng dụng trong xem Tử vi.

Số Can Việt Âm - Dương Ngũ hành
0 canh Dương Kim
1 tân Âm Kim
2 nhâm Dương Thủy
3 quý Âm Thủy
4 giáp Dương Mộc
5 ất Âm Mộc
6 bính Dương Hỏa
7 đinh Âm Hỏa
8 mậu Dương Thổ
9 kỷ Âm Thổ

Tu tren, ta thay

Can Âm-Dương Ngũ Hành
Giáp - Ất Dương - Âm Mộc
Bính - Đinh Dương - Âm Hỏa
Mậu - Kỷ Dương - Âm Thổ
Canh - Tân Dương _ Âm Kim
Nhâm - Quý Dương - Âm Thủy