Hỏa giáo

Hỏa giáo hay Bái Hỏa giáo còn được gọi là "Bái hỏa giáo, Hỏa yêu giáo, hoặc Đạo Zarathushtra" do nhà tiên tri Zarathushtra sáng lập vào khoảng 1000 năm trước công nguyên . Tôn giáo này phát triển mạnh ở Ba Tư từ thế kỷ 7 TCN, sau đó, phát triển sang nhiều nước khác ở Trung Đông, Ấn Độ và Trung Hoa.
Hỏa giáo được xem một trong những tôn giáo lâu đời nhất của nhân loại với bộ kinh thánh Kinh Avesta . Hỏa giáo là tôn giáo độc thần chỉ thờ một thần là thần trí tuệ Ahura Mazda .
Xuất thân Zarathustra
[edit]Zarathustra trong ngôn ngữ cổ Avetsta có nghĩa là con lạc đà màu vàng hay người cưỡi lạc đà. Từ họ Spitama của ông có thể nhận thấy ông xuất thân trong 1 gia đình kỵ sĩ quý tộc Anxi. Theo căn cứ từ các truyền thuyết của Hỏa giáo thì ông sinh vào 628TCN, mất 551TCN, tuy nhiên vẫn có nhiều tranh luận về năm sinh của Zarathustra, đa phần ước tính vào khoảng 1000 năm TCN.
Năm 20 tuổi Zarathustra bỏ nhà sống ẩn dật, Năm 30 tuổi nhận được “thần khải” nên đã tiến hành cải cách đối với Đạo Đa thần truyền thống của Ba Tư, sáng lập ra Bái Hỏa giáo chỉ thờ một thần. Sau đó, ông lưu lạc ở nhiều vùng Ba Tư, bị đại biểu thần quyền quan lại Ba Tư bức hại, rất ít người tin theo ông.
Năm 42 tuổi, Zoroaster thuyết phục Vua Ba Tư là Vishtaspa theo Hỏa Giáo. Từ đó, Bái Hỏa giáo có địa vị vững chắc, từ miền Đông Ba Tư phát triển tới miền Tây và các vùng lân cận . Nhờ đó, Hỏa Giáo đã được truyền bá khắp nước.
Năm 558TCN, ông được quốc vương Vishtaspa của Batricia tiếp đón, quan tể tướng nước này lấy con gái ông làm vợ nê được nhiều quan đại thần và quý tộc tin theo. Ông có vợ và nhiều con. Năm 77 tuổi, ông bị một đạo sĩ thuộc cấp giết chết.Năm 551 TCN, trong cuộc chiến giữa Vishtaspa và Axeospai của tộc Tolonia, Zarathustra bị sát hại ở miếu thần.
Hình thành và phát triển Hỏa giáo
[edit]Với nguồn gốc có thể từ thiên niên kỷ 2 TCN, sự xuất hiện của Hỏa giáo bắt đầu được lịch sử ghi lại vào khoảng giữa thế kỷ 6 TCN. Đây là quốc giáo của các đế quốc Iran cổ đại trong hơn một thiên niên kỷ (khoảng từ 600 TCN tới 650 CN),
Hỏa giáo bắt đầu suy tàn từ thế kỷ 7 CN do người Ả Rập-Hồi giáo chinh phục Ba Tư (633–654 CN), dẫn tới sự đàn áp người Hỏa giáo trên diện rộng. Ước tính hiện tại cho thấy hiện nay có khoảng 110.000–120.000 tín đồ Hỏa giáo trên thế giới, đa phần sống ở Ấn Độ, Iran, và Bắc Mỹ . Số lượng tín đồ được cho rằng ngày càng giảm.
Quan niệm Hỏa giáo
[edit]Tôn chỉ đạo đức
[edit]Tôn chỉ đạo đức của Bái Hỏa giáo là
- Nghĩ điều thiện, nói điều thiện, làm điều thiện .
Thần
[edit]Bái Hỏa giáo cho rằng trong thời nguyên thủy đã tồn tại hai loại thần linh là Thần Thiện và Thần Ác, Thần Thiện Ahura Mazda có ý là “chúa của trí tuệ”, thần Ác Angara Mainyu là nơi hội tụ của mọi tội ác như đen tối, chết chóc, hủy diệt, tội ác. Hai vị thần này đã tiến hành những cuộc đọ sức, chiến tranh. Cuối cùng Thiện thần đã thắng Ác thần,
Bái Hoả Giáo và cách phân chia lịch sử thế giới
[edit]Bái Hỏa giáo chia tiến trình lịch sử của thế giới thành 4 kỳ, mỗi thời kỳ là 3000 năm:
1) Thời kỳ thứ nhất Thần Thiện sáng tạo ra thế giới tinh thần tĩnh lặng và bất động.
2) Thời kỳ thứ hai, thế giới vật chất được tạo ra mà trước hết là “lửa - ánh sáng vô hạn”, có màu sắc trắng dạng hình tròn. Đồng thời thần đã dùng đất nặn thành Gayomat (người vượn) có 4 chi cao vót, ánh sáng giống mặt trời, nhưng về sau khi bị các liêu thần của Thần Ác công kích, đã bị tiêu diệt. Hạt giống của giống loài này được bảo tồn, sau 40 năm, đã nảy sinh một đôi vợ chồng đầu tiên của nhân loại. Đôi vợ chồng này giống như cây đại hoàng cuốn chặt lấy nhau, họ xem như là thủy tổ của loài người.
3) Thời kỳ thứ ba, hai vị thần này đã tiến hành cuộc đấu tranh quyết liệt giữa hai bên và Thần Thiện chiến thắng.
4) Thời kỳ thứ tư là thời kỳ Bái Hỏa giáo thống trị thế giới, quét sạch ma chúng, dẫn dắt nhân loại bước vào vương quốc của “quang minh, công bằng và chân lý”
Ngọn lửa bất diệt của Bái Hoả Giáo
[edit]Bái Hỏa giáo cho lửa là đại biểu của quang minh và điều thiện, tượng trưng cho Ahura Mazđa, do đó có nghi lễ thờ lửa. Trong đền thờ của Bái Hỏa giáo thường xuyên có một ngọn lửa để thờ, gọi là ngọn lửa vĩnh cửu vì được giữ không bao giờ tắt.
Ngọn lửa trong ngôi đền Ateshkadeh, ngôi đền chính của Hỏa giáo có từ năm 470 sau Công Nguyên, truyền qua nhiều nơi trước khi được lấy về đền này vào đầu thế kỷ 20. Ngọn lửa hiện đang cháy trong một cái lò bằng đồng, đặt trong căn phòng có những lớp tường kính bao quanh. Mọi người chụp ảnh ngọn lửa qua bức tường kính ấy
Tập tục chôn cất người chết
[edit]Tục cấm chôn cất người chết mà để xác cho loài chim thú ăn thịt gọi là Thiên táng (gần như ở Tây Tạng). Tục thiên táng không phù hợp với quan niệm của thời đại mới, nên từ những năm 1960 tín đồ Bái Hỏa giáo đã phải bỏ tháp thiên táng và chấp nhận tục mai táng trong nghĩa trang ở dưới chân núi. Người ta mai táng tử thi trong những ngôi mộ bêtông, hạn chế việc làm “tổn hại” cho đất.
Bái Hỏa giáo tôn thờ sự sạch sẽ của đất, nước, lửa và không khí… vì vậy người ta không hỏa táng để làm ô uế lửa và không khí, không thủy táng để làm ô uế nước, không địa táng để làm ô uế đất.
.
Học thuyết Hỏa giáo
[edit]Thuyết nhị nguyên
[edit]Hỏa giáo cho rằng
- Thế giới gồm hai bản nguyên đối lập đấu tranh với nhau đó là Thiện nguyên va Ác nguyên
Thiện nguyên là hóa thân của thần quang minh (Ánh Sáng) Ahura Mazda (Ahura Mazdā) hoặc Oocmut (Ormuzd) . Ác nguyên là hóa thân của thần hắc ám (Bóng Tối) Angra Mainyu (Angra Mainyu). Trong cuộc đấu tranh giữa thiện và ác, con người có thể có ý chí lựa chọn tự do, cũng có quyền quyết định vận mệnh của mình.
Thuyết Mạt Thế
[edit]Nhiều học giả chuyên nghiên cứu tôn giáo cho rằng Zoroaster là người đầu tiên đưa ra thuyết Mạt Thế (Eschatology) cho rang
- Mọi vật trong vũ trụ cuối cùng sẽ bị hủy diệt .
Thế gian và loài người sẽ có ngày tận cùng gọi là Ngày Tận Thế (The Doomsday). Trong ngày tận thế, Thiên Chúa sẽ xét xử công tội của tất cả mọi người, do đó ngày Tận Thế còn được gọi là Ngày Phán Xét Cuối Cùng (The Last Judgement). Để có thể tham dự Phiên Xử Cuối Cùng của Chúa thì mọi người chết đều được sống lại. Zoroaster cho rằng khi chết thì thân xác con nguời bị phân hủy thành tro bụi nhưng linh hồn chìm đắm trong cõi vô thức như trong lúc ngủ. Đến Ngày Phán Xét Cuối Cùng, Thiên Chúa sẽ sai thiên thần thổi kèn (clarion) đánh thức linh hồn và xác kẻ chết sống lại hết. Tất cả mọi người đều tập trung ở một nơi để nghe Chúa phán xử.Sau khi được xét xử, kẻ thiện lành được lên Thiên Đàng và kẻ ác bị đày xuống Hỏa Ngục. Chính Thuyết Mạt Thế đã đưa đến niềm tin vào Thiên Đàng và Hỏa Ngục.
Hoa giáo tin rằng, con người sau khi chết, linh hồn phải chịu sự phán xét cuối cùng của thần quang minh Ahura Mazđa. Thần quang minh căn cứ vào lời nói và việc làm trên trần gian của con người và cho họ lên thiên đường hay vào địa ngục. Do đó, trong lúc còn sống, mọi người phải làm điều thiện, tránh điều ác, bỏ đen tối đi vào chỗ sáng.
Một số nghi lễ của Hoả Giáo
[edit]Lửa thánh
[edit]- Hỏa giáo cho rằng lửa là con trai của Thần Thiện, có sức mạnh cao nhất, thanh tịnh sáng láng và mạnh mẽ. Do vậy, lửa là con mắt của chính nghĩa. Thời cổ đại Ba Tư, lửa thánh còn được phân chia theo đẳng cấp như tế tư, võ sĩ, nông dân.
Lễ tân sinh
[edit]- Nam nữ lên 7 (Ấn Độ) hoặc 10 (Ba Tư) đều phải cử hành nghi thức nhập môn do các tư tế ban cho áo thánh và dây lưng thánh để làm dấu hiệu của giáo đồ chân chính. Áo thánh dùng vải thô màu trắng may thành, hai mặt trước sau tượng trưng cho quá khứ và tương lai. Dây lưng thánh tượng trưng cho phương hướng đúng đắn, được dệt bằng 72 sợi lông cừu, vòng quanh bụng 3 lượt.
- Chia làm 3 phần: Tiểu tịnh (vệ sinh thân thể sạch sẽ trước khi đọc kinh văn); Đại tịnh (tắm gội trước khi làm lễ tân sinh hoặc kết hôn dưới sự chủ trì của một vị tư tế) ; Đặc tịnh (chủ yếu cư hành đối với những người chuẩn bị đảm nhận thần cức hoặc vận chuyển thi thể người chết, cần phải có hai tư tế chủ trì. Những người tham gia loại nghi lễ này dưới sự canh giữ của một con chó; dùng nước, cát và nước đái bò để rửa sach ô uế ở trên thân thể đồng thời trừ bỏ ác tâm, và làm lễ trong vòng 9 ngày)
Kinh thánh
[edit]“Avetsta” có nghĩa là “tri thức”, “du lệnh” hoặc “kinh điển”, thường được gọi là Kinh cổ Ba Tư, nhưng đã bị đốt hết khi Alexandre chinh phạt vùng đất này, hiện chỉ con 1 quyển. Quyển kinh này chia ra làm 6 phần:
- Yasna: sách cúng tế với các bài tán ca
- Visprat: sách chúng thần
- Vidèvadat: sách đuổi ma
- Yashts: sách tán dương thần linh và thiên sứ
- Khurda: sách cầu nguyện
Một quyển sách nhỏ ghi lại các bài tụng ca rời rạc.