Hoàng đế nội kinh - Phép tắc chửa bệnh

From Wikiversity
Jump to navigation Jump to search

Gốc bệnh và chữa bệnh[edit]

Chữa bệnh cần phải tìm gốc bệnh. (Sự biến hóa sinh sát của âm dương vạn vật đối với nhân thể cũng phù hợp như nhau, cho nên phép chữa bệnh trước hết phải tìm gốc bệnh).

  • Bệnh nhẹ thì chữa bằng cách phát tán. Bệnh nặng thì chữa bằng cách tước bớt (tả) . (Phát tán thì giải hết tà khí). (Bệnh nặng thì làm cho nhẹ bớt đi).
  • Khí huyết suy nhược thì chữa bằng cách bồi bổ . Hình thể suy nhược phải ôn bổ phần khí . Tinh khí hao kém thì chữa bằng những vị thuốc hậu vị. (Vệ khí để làm ấm áp da thịt, kín lỗ chân lông, coi việc đóng mở, cho nên vệ khí ấm thì hình thể đầy đủ. Thận chủ thủy, tiếp nhận tinh khí của ngũ tạng lục phủ, mà tích lại, cho nên ngũ tạng thịnh thì thận mới có thể tả ra được, do đó tinh khí hao kém thì dùng hậu vị để bổ ngũ tạng).
  • Bệnh ở bộ phận trên thì nhân đó mà làm cho mửa vọt ra . Bệnh ở bộ phận dưới thì phải khơi dần làm cho tiêu đi . Bệnh trướng đầy ở bộ phận giữa thì có thể tả hạ,
  • Tà ở ngoài biểu thì có thể giầm nước nóng cho đổ mồ hôi, Tà ở bì phu thì có thể dùng phép phát hãn, cho nó tiết hết ra ngoài.
  • Bệnh thế nguy cấp có thể xét chứng trạng mà chế phục ngay, chứng thực thì có tả hoặc tán.
  • Quan sát xem bệnh ở phần âm hay ở phần dương để phân biệt chứng cương. Dương bệnh chữa ở âm, âm bệnh chữa ở dương. (Tức là theo âm dẫn dương, theo dương dẫn âm, lấy hữu chữa tả, lấy tả chữa hữu).
  • Xác định bệnh tà ở khí hay ở huyết, còn bệnh về huyết lại hại đến khí, bệnh về khí lại hại đến huyết, cho nên huyết thực thì nên dùng phép tả huyết, khí hư thì nên dùng phép đạo dẫn .
  • Theo sự biến hóa của quy luật bình thường và khác thường để tổng hợp phân tách, xem xét sự biến hóa kỳ diệu của nó, để biết cái yếu lĩnh. Nếu muốn biết cái yếu lĩnh ấy thì chỉ có cách nghiên cứu khí sắc và mạch. (Đây là nói sở dĩ biết được khí của tứ thời ngũ hành, biết được cái yếu lĩnh kỳ diệu của sự biến chuyển ấy là phải nghiên cứu khí sắc và mạch). Sắc ứng với mặt trời, mạch ứng với mặt trăng. Thường tìm được cái yếu lĩnh của sắc và mạch tức là phần cốt yếu của sự xem bệnh. (Nói rằng mạch ứng với mặt trăng, sắc ứng với mặt trời là cái mức độ để xem sắc mạch, thường tìm cái bất thường của sắc và mạch. Đó là cốt yếu để chẩn đoán người bình thường).Người thầy thuốc kém bô bô cho là bệnh có thể công, cho nên bệnh cũ chưa khỏi, mà bệnh mới đã phát sinh. (Nói thầy thuốc kém không biết lo liệu đúng việc, chữa không đúng bệnh, thì tai hại càng tăng).
  • Mấu chốt cực kỳ trọng yếu trong công tác chẩn trị là ở chỗ không được nhầm lẫn sắc và mạch, vận dụng sắc và mạch rất giỏi mà không mảy may nghi hoặc, đó là nguyên tắc rất lớn trong công tác chẩn trị. (Đây là nói sắc với mạch ứng với bệnh rõ ràng không sai, chỉ nên vận dụng phép tắc mà không làm rối loạn tức là nguyên tắc lớn “chữa bệnh phải quan sát kỹ càng”). Có thần khí thì tiên lượng là tốt, không có thần khí thì tiên lượng là không tốt. (Đây là nói rõ, phép chữa bệnh lấy sắc mạch là cực kỳ trọng yếu mà điểm trọng yếu thứ nhất là ở chỗ có thần khí mà thôi).

Bệnh[edit]

Có bệnh, chẳng phải sinh ra từ mảy may bên ngoài mà là do dương khí của ngũ tạng suy kiệt, gây nên thủy khí đầy tràn ở bì phu, mà chỉ có âm khí là thịnh nhất. m khí ở một mình bên trong thì dương khí càng hao bên ngoài. m thịnh dương suy, thủy khí tràn đầy, mình mẩy sưng phù không thể mặc được quần áo. Những loại bệnh này đều là chứng chân tay bị phù thũng, mạch cấp sác ảnh hưởng đến trung khí mà thở gấp, đấy là âm khí đối kháng ở trong mà thủy khí hiện ra ở ngoài,

Phương pháp chữa bệnh này như thế nào?

(Bệnh không phải sinh ra từ mảy may là nói sinh ra ở bên trong, âm khí thịnh bên trong dương khí kiệt hết không vào được trong bụng, cho nên nói dương khí của ngũ tạng kiệt hết. Tân dịch là chất nước, âm khí súc tích bên trong, thủy khí trướng đầy công lên phế, phế khí bị cô lập, thận thủy bị làm hại, con không cứu được mẹ, âm tinh hao tổn ở ngoài, thì tam tiêu bế tắc tràn đầy, thủy đạo không thông. Thủy khí đầy ở bì phu, mình mẩy phù thũng cho nên mới không mặc quần áo được. Phàm những loại bệnh này đều là mạch ở chân tay sác cấp mà động đến bên trong mạch. Phế động là nói khó thở mà ho, nói như thế tức là thủy khí đối kháng ở trong màng bụng, phù thũng thể hiện bên ngoài thân thể, muốn xét đến tận nguồn gốc có được không).

Muốn trị bệnh này để bình phục thủy khí, nên căn cứ vào bệnh tình nặng hay nhẹ, để khu trừ hết những nước đọng bên trong người, làm như gọi bệnh nhân, lắc tay lắc chân nhè nhẹ cho dương khí dần dần được tuyên thông. Mặc quần áo ấm áp để giúp cho phần dương ở ngoài cơ thể, mà âm khí ngưng đọng dễ tan.

Dùng phương pháp chích lể, lể chỗ thũng, nặn cho ra nước, để khôi phục lại hình thể như cũ; hoặc dùng phép khai Quỷ môn để mở lỗ chân lông, tả sạch bàng quang để làm cho âm tinh bình phục trở lại. Dương khí của ngũ tạng được phân bố khắp, để sơ thông uất tà của ngũ tạng. Như thế tinh khí tự sinh thành, hình thể tự cường thịnh, xương cốt và bắp thịt gìn giữ được trạng thái bình thường, chính khí cũng khôi phục bình thường. (Mạch phù ở biểu nên hãn, trầm ở lý nên hạ, nếu trừ được thủy tà tích đọng lại đã lâu, lại vận động nhẹ chân tay để đạo dẫn, mặc áo ấm áp cho lưu thông, chích lể tại chỗ thũng để khôi phục hình thể. Vì kinh mạch đầy thì mạch lạc tràn ra, dùng phép chích lể để điều hòa kinh mạch, khai quỷ môn để ra mồ hôi, khiết tỉnh phủ để lợi tiểu tiện, làm cho ngũ tạng dần dần bình phục. Dương khí của ngũ tạng dần dần tỏa khắp để sơ thông ngũ tạng, tà khí hết mà tinh khí tự sinh ra, hình thể tự sung thịnh, xương thịt cùng gìn giữ nhau chính khí sẽ bình phục).


Công phạt chứng bệnh không đáng công phạt là sai lầm lớn, làm cho rối loạn kinh mạch tạng phủ, làm cho chân khí không thể khôi phục. Cho chứng thực làm chứng hư, lấy tà khí làm chính khí.

Châm kim không đúng phép là chỉ giúp cho tà khí gây hư hại làm mất hết chính khí của người ta . Làm cho chứng thuận thành chứng nghịch, vinh vệ tán loạn. Chân khí mất rồi, chỉ còn một mình tà khí vướng ở trong, làm tổn thọ mạng người, gây tai hại cho người bệnh không gì lớn bằng. Những người thầy thuốc mà không biết đến “tam bộ cửu hậu” [62] này là không thể chữa khỏi bệnh được. (Hiểu biết không được tinh tường, học thức chưa thấu đáo làm rối loạn kinh mạch tạng phủ, hại đến chính khí nên hễ sờ đến là sai, làm sao chữa khỏi bệnh được). Bởi vì không biết cách phối hợp tứ thời ngũ hành làm cho mất sự quân bình, không trị tà khí mà công chính khí, làm tổn thọ mạng người. (Không những chỉ không biết tam bộ cửu hậu là có hại. Nếu không biết quy luật của tứ thời ngũ hành cũng làm hại đến sinh mạng).Tà mới cảm vào chưa có chỗ nhất định, trước phải đẩy nó ra, đẩy nó ra thì khỏi. Đón tà mà tả nó đi, bệnh sẽ khỏi ngay. (Đó cũng là giải thích cách bổ tả trong sách Châm kinh).

Trời rét không nên châm. (Vì huyết ngưng đọng mà vệ khí chìm). Trời ấm không ngần ngại châm, khi mới có trăng non không dùng phép tả, khi trăng tròn không dùng phép bổ, khi bóng trăng tối không dùng phép châm. (ý nói phép châm phải tùy theo thời tiết của thiên nhiên). Bởi vì thân thể đã hư lại gặp phải hư tà tặc phong của thiên nhiên xâm phạm, hai cái hư cảm ứng nhau, tà khí có thể xâm phạm đến gân cốt, lại vào sâu thêm một bước, có thể tổn hại đến ngũ tạng. (Vì hư lại cảm hư là “đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu” với nhau).

Người thầy thuốc mà biết được khí hậu biến hóa để chữa bệnh thì có thể cứu vãn kịp thời, không để tổn hại nghiêm trọng. (Phải biết để cứu vãn thì khỏi, chớ nên làm tổn thương). Cho nên nói không thể không biết đến sự kiêng kỵ của thiên thời. (Phạm điều kiêng kỵ của thiên thời sẽ sinh bệnh, cho nên cần phải hiểu biết).

Hư tà là tặc phong hư tà của bốn mùa tám tiết. (Hư tà tặc phong của bốn mùa tám tiết là hư tà từ chỗ phương hư đến xâm nhập nhân thể mà sinh bệnh). Chính tà là con người dùng sức quá, mồ hôi ra, lỗ chân lông hở, gặp phải hư phong. Chính tà trúng vào thì nhẹ, cho nên đa số thầy thuốc đều không biết bệnh tình của nó, không thấy được hình dung của nó. (Chính tà là tà không phải từ chỗ phương hư mà đến, vì nó trúng vào người nhẹ, cho nên không biết được bệnh tình, không thấy được hình dung của nó). Thầy thuốc giỏi cứu bệnh từ lúc bệnh mới chớm nở, trước hết phải thấy cho được khí của tam bộ cửu hậu, điều hòa cứu chữa từ lúc bệnh chưa nguy. Thầy thuốc kém cứu bệnh khi bệnh đã hình thành, cứu bệnh khi bệnh đã nguy. Cứu bệnh khi bệnh đã hình thành là nói không biết chỗ trái nhau của tam bộ cửu hậu rồi nhân đó mà làm cho bị nguy.

Trị chứng bại chỉ lấy một kinh Dương minh là tại sao?

Kinh dương minh là nguồn gốc dinh dưỡng của ngũ tạng lục phủ. (Kinh Dương minh là mạch của vị, là nơi chứa thủy cốc). Kinh Dương minh chủ việc tư nhuận dinh dưỡng tôn cân, tôn cân chủ việc gắn bó các khớp xương lưu lợi. (Tôn cân là đường gân ở trên dưới xương mu, trong chòm lông mu, trên chằng với ngực bụng, dưới suốt đến xương hông, xương cùng, lại qua lưng bụng lên đầu gáy cho nên nói là tôn cân chủ việc gắn bó các đốt xương mà làm cho các khớp xương lưu lợi, thắt lưng là khớp xương lớn, co duỗi được nên cũng được gọi là cơ quan).

Mạch Xung là nguồn gốc của 12 kinh mạch. (Sách Linh khu nói: “Mạch Xung là cái bể của 12 kinh mạch”). Chủ việc tưới bón thấm nhuần các thớ thịt, cùng với Dương minh hợp ở Tôn cân. (Như trên đã nói thì đường gân mọc đứng ở hai bên rốn, trên dưới xương mu mới chính là tôn cân. Mạch Xung theo bụng đi lên sát cạnh rốn, hai bên cách 5 phân đồng thân thốn. Mạch Dương minh cũng theo sát cạnh rốn đi lên cách mỗi bên 1 tấc rưỡi đồng thân thốn, mạch tôn cân thì ở giữa cho nên nói là cùng kinh Dương minh hợp với tôn cân. Vì mạch Xung là nguồn gốc của 12 kinh mạch, cho nên chủ việc tưới bón thấm nhuần các thớ thịt).

m dương kinh tổng hội ở tôn cân, lại hội ở Khí nhai, mà kinh Dương minh thì thống lĩnh tất cả, đều thuộc về mạch Đới, liên lạc với mạch Đốc. (Tôn cân hội ở giữa xương mu, từ trên đi xuống cho nên nói là âm dương tổng hội ở tôn cân. Tôn cân đi sát dưới rốn, hợp ở xương mu, kinh Dương minh giúp đỡ ở ngoài, mạch Xung ở giữa cho nên nói là hội ở Khí nhai mà kinh Dương minh chủ trì tất cả, Khí nhai là chỗ động mạch hai bên âm mao. Mạch Đới khởi đầu từ sườn cụt, quanh mình một vòng mà liên lạc với mạch Đốc. Mạch Đốc khởi đầu ở trên, dưới huyệt Quan nguyên đi theo bụng, cho nên nói đều thuộc về mạch Đới, liên lạc với mạch Đốc. Ba mạch Xung, Nhâm, Đốc cùng khởi đầu một chỗ mà đi riêng cho nên lời văn trong Nội kinh có thêm bớt dẫn vào).

Cho nên kinh Dương minh hư thì tôn cân buông lỏng, mạch Đới không thu dẫn được làm cho hai chân bại không cử động được. (Mạch Dương minh từ hõm vai xuống mé trong vú, xuống sát rốn, giữa huyệt Khí nhai. Một chi mạch của nó khởi đầu từ cửa miệng dưới dạ dày, đi theo trong bụng, xuống đến trong Khí nhai mà hợp, lại đi xuống xương đùi, đến Phục thỏ đi xuống vào xương bánh chè, xuống mé ngoài chân, xuống mu bàn chân vào trong khe ngón giữa. Chi mạch của nó đi xuống chỗ cách đầu gối ba tấc mà rẽ xuống đi vào mé ngoài khe ngón chân giữa, cho nên kinh Dương minh hư thì tôn cân buông lỏng. Mạch Đới không thu dẫn mà chân bại không sử dụng được).

Không nên châm

  • Không nên châm khi bệnh nhân say quá, nếu không thì làm cho khí huyết rối loạn;
  • Không nên châm khi bệnh nhân giận quá, không thì làm cho khí trong người nghịch lên;
  • Không nên châm khi bệnh nhân nhọc mệt quá (vì kinh khí đang bốc lên);
  • Không nên châm cho người mới ăn no (vì khí đầy thịnh).
  • Không nên châm cho người đói quá (Vì khí bất túc).
  • Không nên châm cho người khát quá (vì huyết mạch khô).
  • Không nên châm cho người đang kinh sợ quá (Vì thần đang bốc ra ngoài).

(Đây là nêu lên những trường hợp không được khinh suất trong việc châm, và là ý nghĩa căn bản của việc cấm châm).

Có bệnh ở tiêu (ngọn hiện tượng) mà trị ở tiêu, có bệnh ở bản (gốc bản chất) mà trị ở bản, có bệnh ở bản mà trị ở tiêu, có bệnh ở tiêu mà trị ở bản. Cho nên trong việc chữa bệnh có khi chữa ở tiêu mà kết quả, có khi chữa ở bản mà đạt yêu cầu, có khi chữa theo lối chính trị mà bệnh khỏi, có khi chữa theo lối phản trị mà bệnh lành. (Nắm chắc tình hình của bệnh, biết được đại thể của bệnh thì dù áp dụng phương pháp chính trị hay phản trị đều chữa được cả).

Cho nên biết được nguyên tắc nghịch trị, tòng trị thì trong việc trị liệu sẽ nắm vững một cách chính xác mà không phải nghi nan; cho nên trong tình trạng bệnh nặng nhẹ hoãn cấp, biết rõ được tiêu bản thì chữa vạn bệnh đều khỏi cả. (Lý lẽ không nghi ngờ, kiến thức sâu rộng thì không phải hỏi ai mà làm là đúng).

Không hiểu tiêu bản tức là làm càn. (Kiến thức còn thiển cận, lý lẽ chưa cao sâu, việc làm hay sai trái cho nên hễ hạ thủ là làm sai). Lý lẽ nghịch tòng tiêu bản của âm dương tuy nhỏ mà rất to, chỉ nói một lời mà biết được cái hại của trăm bệnh. (Biện biệt được âm dương, biết được lẽ nghịch thuận, phép tắc rõ ràng, kiến thức tinh vi thì việc tuy nhỏ mà lợi to, do đó mà làm sáng tỏ thêm, cho nên nói: “Chỉ một lời mà biết được cái hại của trăm bệnh”).

Từ ít đến nhiều, từ hẹp đến rộng, có thể nói một mà biết được cả trăm. (Nói ít có thể thấu suốt được nhiều, nói hẹp mà có thể liệu biết được rộng, thì có thể nói một điều mà lĩnh hội được trăm điều). Suy điều nông mà biết điều sâu, xét điều gần mà hiểu điều xa, nói về lẽ tiêu bản tuy dễ mà việc làm khó theo kịp. (Tuy sự việc rất sâu xa huyền bí, con người không thể lấy thước đo được, chỉ lấy phần đại khái thiển cận mà thấu suốt được cả. Nhưng lý lẽ tiêu bản tuy nói thì dễ mà kiến thức con người không thể theo kịp được).

Như bệnh phát mà biểu hiện thực chứng hữu dư, đấy là do tà khí thịnh gây nên, tà khí là bản mà các triệu chứng là tiêu, cần phải chữa bản trước, chữa tiêu sau; bệnh phát, mà biểu hiện hư chứng bất túc, đấy là do chính khí hư yếu gây nên. Chính khí là tiêu mà tà khí là bản, cần phải chữa tiêu trước mà chữa bản sau.

Cần phải cẩn thận quan sát mức nặng nhẹ nông sâu của bệnh, phân biệt tiêu bản trước sau một cách kỹ lưỡng rồi tiến hành trị liệu thích đáng. (Bệnh nhẹ nhiều hình chứng dễ chữa, bệnh nặng ít hình chứng khó chữa. Xét rõ về tiêu bản, bất túc hay hữu dư để tiến hành điều trị thích đáng). Bệnh nhẹ là hợp bệnh. Bệnh nặng là một kinh bị bệnh, đại tiểu tiện không thông trước rồi mới sinh bệnh, phải chữa bản trước. (Hợp bệnh là các kinh mạch khác nhau cùng bị chung một tà khí. Một kinh bị bệnh là không có khí khác cùng xen lẫn vào. Tính bệnh nhiều thì cùng truyền sang nhau, truyền gấp thì cũng là chứng chết. Đó là bàn về bệnh có tiêu bản, phép châm có thuận nghịch).

Thuốc có độc hay thuốc không độc, cách uống có nguyên tắc nào không?

Bệnh có chứng đã lâu, có chứng mới phát, phương có đại phương tiểu phương, thuốc có vị độc vị không độc, vốn là chế độ thông thường. Dùng vị thuốc rất độc để chữa bệnh, khi mười phần đã khỏi sáu thì thôi, dùng vị thuốc độc vừa để chữa bệnh khi mười phần đã khỏi tám thì thôi, thuốc không độc, mười phần khỏi chín thì thôi, không nên uống nữa. Sau đó cần cho ăn loại ngũ cốc, ngũ nhục, ngũ quả, ngũ thái [63].. để điều dưỡng làm cho chính khí khôi phục, tà khí sẽ hết. Không nên dùng thuốc độc quá nhiều làm hại chính khí. (Thuốc rất độc tính mãnh liệt, làm tổn thương nhiều. Thuốc độc ít, tính hòa bình làm tổn thương ít, thuốc độc vừa tính bình thường kém thứ thuốc rất độc một bậc, hơn tính chất thuốc độc ít một bậc, thì sự tổn hại có thể biết được cho nên đúng mức thì thôi, bệnh 10 phần khỏi được 6, 7 hoặc 8 phần thì thôi ngay. Nhưng thứ thuốc không độc tình tuy hòa bình mà dùng lâu và nhiều thì khí sẽ bị thiên thắng, mà thiên thắng thì một bên sẽ bị suy, nên không thể uống lâu được, bệnh 10 phần khỏi 9 thì thôi. Uống đến đúng mức thì cho ăn đổi ngũ cốc, ngũ nhục, ngũ quả, ngũ thái, tùy sự thích hợp của ngũ tạng mà ăn để điều dưỡng).

Nếu như tà khí chưa hết thì lại uống như phép trên. (Phép ở đây là nói bốn mức độ như trên, nếu tà khí chưa hết thì phải dùng lại lần nữa, nhưng độc ít hay độc nhiều uống đến đúng mức thì thôi tất nhiên vô hại).

Trước tiên phải biết vận khí thái quá hay bất cập thì không đến nỗi dùng nhầm thuốc công phạt đánh vào chính khí hòa bình, không được dùng thuốc bổ cho chứng thực làm cho chứng thực càng nặng thêm, không được dùng thuốc công cho bệnh hư làm cho bệnh hư đã hư lại càng hư nặng, tạo thành cái tà “thịnh thịnh”, “hư hư” mà khiến cho người ta phải vong mạng. (Không xét hư thực chỉ nghĩ đễn công kích thì chứng thực lại thực thêm, hư lại hư nặng, mọi bệnh đều do đó mà nặng thêm, chính khí ngày càng hao mòn, bệnh thế ngày càng nặng, tai họa chết non khó lòng tránh khỏi).

Không nên bổ nhầm làm cho tà khí mạnh lên, không nên tả nhầm làm cho chính khí tổn thất mà làm cho người ta phải tử vong. (Cái gọi là đánh vào chính khí hòa bình (phạt thiên hòa) là công chứng hư mà cho rằng thực, đó là làm cho tà khí mạnh thêm. Không biết nội tạng đã hư mà công đó là làm cho chính khí tổn thất, chính khí tổn thất đó là nguồn gốc dẫn đến chỗ chết).

Cho nên con người phải thích ứng với thiên nhiên, làm cho kinh lạc sơ thông, huyết khí điều hòa, khôi phục chỗ thiếu sót của nó, làm tương tự như người bình thường. Tốt nhất là bồi dưỡng, điều hòa, kiên tâm trì chí, cẩn thận gìn giữ chính khí không làm cho nó tiêu hao thì hình thể tự nhiên đầy đủ, sinh khí sẽ dồi dào. (Bệnh khỏi rồi mà gầy, kinh lạc đã thông, khí huyết đã điều hòa, nên khôi phục cho tạng nào chưa đầy đủ, làm cho bằng với các tạng đã đầy đủ, tất phải điều dưỡng, bền lòng chờ đợi thì hình thể ngày càng khỏe mà sẽ hết gày).

Dùng thuốc nhiệt tránh bệnh nhiệt, dùng thuốc hàn cần tránh bệnh hàn là thế nào?

Đáp: “Phát biểu thì không kiêng nhiệt, công lý thì không kiêng hàn”. (Mồ hôi tiết ra cho nên dùng thuốc nhiệt không kiêng nhiệt, ỉa chảy cho nên dùng thuốc hàn không kiêng hàn, đều là nói bất đắc dĩ mà phải dùng).

Cần phải thuận theo sự ôn lương hàn nhiệt của bốn mùa, vi phạm sự cấm kỵ của bốn mùa mà sinh bệnh thì phép chữa là phải dùng thuốc thắng được thời tiết. (Mùa xuân nên dùng thuốc mát, mùa hè nên dùng thuốc lạnh, mùa thu nên dùng thuốc ấm, mùa đông nên dùng thuốc nóng, đó là thích nghi với thời tiết. Dùng thuốc không thể không thuận theo sự thích hợp đó. Nhưng phạm nhiệt thì lấy thuốc hàn mà chữa, phạm hàn lấy thuốc nhiệt mà chữa, phạm khí mùa xuân nên dùng thuốc mát, phạm khí mùa thu nên dùng thuốc ôn, đó là dùng thuốc để chiến thắng bệnh).

Đàn bà có mang dùng thuốc độc thì như thế nào?

Kỳ Bá: Ứng dụng đúng mục đích thì chẳng những không hại gì đến thai mà cũng không hại gì đến mẹ.

(Tức là người có bệnh báng hòn cục, rắn đau không chịu nổi, thì phải chữa bằng thuốc phá tích, thuốc trấn thống, bởi vì không cứu thì chết cả mẹ lẫn con, cứu là để cứu cho mẹ).

Bệnh tích tụ nặng thì vì mục đích chữa bệnh, cũng có thể sử dụng thuốc độc. Nhưng cần phải cẩn thận, khi bệnh đỡ quá 50% thì thôi không dùng nữa, nếu dùng quá nhiều sẽ chết.

(Bệnh đỡ quá 50% không đủ làm hại sinh mạng cho nên bệnh đỡ quá 50% thì thôi, nếu dùng quá lệ là tận dụng hết độc khí của thuốc mà bên trong không còn gì đáng công để đương đầu với thuốc thì sẽ tổn hại chân khí, cho nên nói dùng quá sẽ chết).

Mộc khí uất phải điều đạt can khí, hỏa khí uất phải phát tán hỏa nhiệt, thổ khí uất phải dùng phương pháp hạ để chữa, kim khí uất phải làm cho tuyên thông phế khí, thủy khí uất phải trục thủy để bẻ gãy cái thế xung nghịch, sau đó mới điều hòa khí của ngũ tạng.

(Điều đạt tức là làm cho mửa, phát tán tức làm cho phát hãn, ra mồ hôi làm cho sơ tán. Hạ tức làm cho xổ. Tuyên thông là thấm tiết giải biểu, làm cho lợi tiểu tiện. Trục thủy là ức chế cái thế xung nghịch. Sau rồi mới xem coi khí hư thịnh thế nào mà điều lý cho thích đáng).

Bệnh thái quá thì dùng thuốc ức chế lại để bẻ gãy cái thế, cũng là tả bệnh thái quá.

(Bệnh thái quá phải lấy vị mà tả, như vị mặn tả thận khí, vị chua tả can khí, vị cay tả phế khí, vị ngọt tả tâm hỏa).

Lục khí thiên thắng mà sinh bệnh, khi còn nhẹ thì tùy theo nó mà trị, khi đã nặng rồi thì chế ước nó đi. Do phục khí mà sinh bệnh thì khí hòa hoãn thì làm cho bình ổn, khí mạnh dữ thì phải tước đoạt bớt, đều là phải tùy theo khí thiên thắng mà làm yên phần khí bị khuất phục, chẳng cứ mức độ thế nào lấy hòa bình được là thôi, đấy là phép tắc chữa bệnh.

(Chữa các bệnh này, chẳng cứ là mức độ thế nào, chỉ lấy khí được bình hòa làm tiêu chuẩn, đấy là nói phục khí sinh bệnh và cũng có phép chữa về bệnh ấy).

Khí bốc lên cao thì nén xuống, khí hãm xuống dưới thì nâng lên, thế hữu dư thì phải bẻ gãy, thế bất túc thì phải bổ hư, bổ trợ thêm cái có lợi cho chính khí, điều hòa bằng những vị thuốc thích hợp tất phải làm cho chủ khách được yên ổn và thích ứng với hàn ôn. Khí giống nhau thì dùng cách nghịch trị, khí khác nhau thì dùng cách tòng trị.

(Khí bốc lên cao thì nén xuống, nghĩa là chế bớt cái mạnh quá. Khí hãm xuống thì nâng lên nghĩa là giúp đỡ cái yếu. Cái hữu dư thì phải bẻ gãy là làm cho cái mạnh dữ phải nhụt bớt. Cái bất túc thì bổ là bảo toàn nguyên khí, tuy chế bớt cái thắng, giúp đỡ cái yếu mà khách chủ đều phải yên theo một khí. Nếu sai mất lẽ thường thì bên trong dầm ngấm, bên ngoài lấn vào mà sinh ra nguy hại. Giống nhau là khí hàn nhiệt ôn thanh cùng hòa hợp với nhau, khác nhau là thủy, hỏa, kim, mộc, thổ không hòa hợp với nhau. Khí hợp nhau thì phải dùng cách nghịch trị đối với cái mình khắc, khí không hợp với nhau thì phải dùng cách tòng trị cái mình bị khắc. Đó là nói đại khái về cách chữa chủ khách).

Bệnh khí ở chỗ cao thấp khác nhau, vị trí của bệnh có xa gần khác nhau, chứng trạng biểu hiện có trong ngoài, biểu lý khác nhau, phương pháp trị có khinh trọng hoãn cấp khác nhau, tóm lại là làm sao cho đúng chứng đúng bệnh là đạt tiêu chuẩn.

(Bộ vị của nội tạng có chỗ cao chỗ thấp, khí của lục phủ có nơi xa nơi gần, bệnh chứng có phần biểu phần lý, dùng thuốc có vị nặng vị nhẹ để điều hòa cái nhiều cái ít, cái nhanh cái chậm, làm cho dược khí đến tận chỗ phát bệnh là đúng mức, không thái quá hay bất cập).

Thiên Đại yếu nói:

Cách chế ra phương bất quá là hai thứ “cơ phương” và “ngẫu phương” mà thôi. Tức là thuốc chủ dược làm quân, thuốc giúp chủ dược làm thần, như quân dược 1 mà dùng thần dược 2 đó là quy chế cơ phương; như quân dược dùng 2 mà thần dược dùng 4 đó là quy chế ngẫu phương; quân dược 2 thần dược 3 đó là quy chế cơ phương; quân dược 3 thần dược 6 đó là quy chế ngẫu phương. (Cổ nhân gọi Cơ tức là đơn phương, Ngẫu tức là phức phương. Cách chế ra đơn phương, phức phương là cùng một nguyên tắc, đều có phương to phương nhỏ. Cho nên cơ phương thì quân dược 1 thần dược 2, quân dược 2 thần dược 4; ngẫu phương thì quân dược 2 thần dược 4, quân dược 3 thần dược 6. Bệnh có bệnh nặng bệnh nhẹ, khí có khí xa khí gần, cách chữa có chữa mạnh chữa vừa cho thích đáng cho nên nói chế phương) .


Cho nên nói bệnh gần thì dùng cơ phương, bệnh xa thì dùng ngẫu phương. Phát hãn không dùng cơ phương, hạ không dùng ngẫu phương. Bổ ở trên nên làm dần dần, bổ ở dưới chữa ở dưới, nên làm cấp tốc. Gấp rút thì khí vị nồng hậu, thư hoãn thì dùng khí vị đạm bạc, cho thích đáng để đạt yêu cầu. (Thuốc phát hãn không dùng cơ phương vì khí không nên phát tiết ra ngoài, thuốc hạ không dùng ngẫu phương vì thuốc độc công phạt nhiều mà gây tai hại, chữa trên bổ trên dùng thuốc tính cấp thì thuốc không ở lại mà đi xuống hết, chữa dưới bổ dưới mà dùng thuốc tính hoãn thì làm nê trệ đường lối mà dược lực suy kém. Chế ra phương có tính cấp mà khí vị đạm bạc thì lực của nó ngang với phương có tính hoãn, chế ra phương có tính hoãn mà khí vị nồng hậu thì thế của nó ngang với phương có tính cấp, như vậy thời dùng hoãn phương mà không hoãn được, dùng cấp phương mà không cấp được, dùng vị hậu mà không hậu được, dùng vị bạc mà không bạc được. Chế ra phương to hay nhỏ không đúng cách, nhẹ hay nặng không đúng mức thì hư thực hàn nhiệt, tạng phủ đều rối loạn, không dựa vào đâu để trị liệu, thì dù cho thần thánh cũng không thể chữa khỏi bệnh được).


Bệnh ở gần thì dùng cơ phương, ngẫu phương với liều lượng nhỏ, bệnh ở xa thì dùng thì dùng cơ phương, ngẫu phương với liều lượng to, to thì số vị ít, nhỏ thì số vị nhiều, nhiều thì 9 vị, ít thì vài vị. (Thang hay hoàn, nhiều hay ít đều như thế. Xa hay gần là nói về bộ vị của tạng phủ, tâm phế là gần, can thận là xa, tỳ vị là ở giữa. Ba kinh dương là tâm bào, đại, tiểu tràng và đởm cũng có xa có gần. Thân thể chia làm ba phần, phần trên là gần, phần dưới là xa. Hoặc người có kiến thức cao xa, vận dụng một cách quyền biến cho hợp lý thì dùng cơ phương mà phân lạng chẵn, dùng ngẫu phương mà phân lạng lẻ. Như thế thì chỗ bệnh gần dùng ngẫu phương mà liều dùng thì nhiều, chỗ bệnh xa thì dùng ngẫu phương mà liều dùng thì ít, cho nên nói phương nhỏ thì số vị nhiều, phương to thì số vị ít).


Dùng cơ phương không khỏi thì dùng ngẫu phương gọi là trùng phương, dùng ngẫu phương không khỏi thì dùng vị thuốc phản tá để giúp vào cho chóng khỏi, tức là tính hàn nhiệt ôn lương của vị thuốc cũng giống như tính hàn nhiệt ôn lương của bệnh. (Dùng trọng phương không khỏi thà dùng khinh phương, dùng thuốc độc không khỏi thà dùng thuốc lành, dùng đại tễ không khỏi thà dùng tiểu tễ, cho nên dùng cơ phương không khỏi phải dùng ngẫu phương, dùng ngẫu phương mà bệnh còn thì dùng thêm một vị phản tá tức là khí vị của thuốc giống như khí của bệnh để trừ bệnh đi. Hàn với nhiệt, nhiệt với hàn đều trái nhau, nhiệt ít thì hàn có thể lấn át, hàn ít thì nhiệt có thể thủ tiêu, hàn quá nhiệt quá thì ắt có thể cùng tranh chấp với cái mà tính chất trái nhau, có thể dùng ngăn chống với cái mà khác khí với nhau, âm bất đồng thì không tương ứng, khí bất đồng thì không tương hợp. Như vậy thời lo ngại mà không dám công, công thì bệnh khí và dược khí chống đối nhau mà tự sinh ra hàn nhiệt, rồi ngăn đóng vít chặt lại. Cho nên các bậc thầy gia thêm vị thuốc trái tính mà đồng khí với bệnh vào làm cho thanh khí cùng tương ứng với nhau, lại làm cho hàn nhiệt cùng tham hợp với nhau, trước khác nhau mà sau giống nhau, thấm nhuần mà làm tan chất rắn, cái cứng cỏi phải gãy, cái mềm nhũn phải tan. Đó là nói về phương pháp tổng quát không vượt ngoài cơ phương, ngẫu phương mà tất nhiên phải thấu triệt ý nghĩa của việc chế phương).


BẢNG THẤT PHƯƠNG CỦA LÝ ĐÔNG VIÊN

  • Đại phương: Quân 1, thần 3, tá 9, (Bệnh ở bộ vị xa dùng cơ phương, ngẫu phương chế theo đại phương mà uống. Đại phương thì số vị ít, ít thì chỉ vài vị. Can thận là ở bộ vị xa, dùng thuốc thang thuốc tán thì phải thường uống và uống nhiều).
  • Tiểu phương : Quân 1,thần 2. (Bệnh ở bộ vị gần dùng cơ phương, ngẫu phương chế theo tiểu phương mà uống, tiểu phương thì số vị nhiều, nhiều thì đến 9 vị. Tâm phế là bộ phận gần, dùng thuốc thang thuốc tán cũng không ngại thường uống và uống ít).
  • Hoãn phương: (Chữa trên bổ trên, chế ra hoãn phương, hoãn thì khí vị đạm bạc, phép chữa cốt tại hòa hoãn vì hoãn là chữa tận gốc).
  • Cấp phương : (Chữa dưới bổ dưới, chế ra cấp phương, cấp thì khí vị nồng hậu, chữa khách tà dùng cấp phương vì cấp thì chữa ngọn).
  • Cơ phương: (Quân 1 thần 2 là cơ phương, quân 2 thần 3 cũng là cơ phương, vì dương thuộc số lẻ).
  • Ngẫu phương: (Quân 2 thần 4 là ngẫu phương, quân 2 thần 6 cũng là ngẫu phương, vì âm số chẵn).
  • Phức phương: (Cơ phương không khỏi dùng ngẫu phương là trùng phương, cũng gọi là phức phương).


Cho nên mọi bệnh khi phát sinh ra, có bệnh sinh ở gốc (bản), có bệnh sinh ở ngọn (tiêu), có bệnh sinh ở trung khí. Có bệnh chữa ở gốc mà khỏi, có bệnh chữa ở trung khí mà khỏi, có bệnh chữa cả ngọn lẫn gốc mà khỏi, có bệnh chữa theo lối nghịch trị mà khỏi, có bệnh chữa theo lối tòng trị mà khỏi. Cho thêm vị thuốc phản tá mà chữa là nghịch trị, dùng cơ phương ngẫu phương mà chữa là tòng trị, bệnh hàn dùng thuốc hàn mà chữa, bệnh nhiệt dùng thuốc nhiệt mà chữa là nghịch trị, tòng nghĩa là thuận. Trái với chứng chính là thuận trị, nếu thuận theo giả chứng nghịch trị.

(Thí dụ như các chứng hàn thịnh cách dương, chữa chứng nhiệt dùng thuốc nhiệt; nhiệt thịnh thì cách âm, chữa bệnh hàn dùng thuốc hàn, dùng trái gọi là nghịch, ngoài tuy là dùng lối nghịch trị mà trong chính là thuận, thế là nghịch mà chính là thuận; nếu chứng hàn cách dương mà dùng thuốc hàn để chữa, nhiệt cách âm mà dùng thuốc nhiệt để chữa, ngoài tuy là thuận mà đối với trung khí thì chính là nghịch, cho nên phương thuận theo giả chứng lại chính là nghịch).


Cho nên nói: “Biết vận dụng tiêu bản thì chữa bệnh không gặp khó khăn, hiểu rõ phương pháp tòng trị nghịch trị thích đáng thì khi xử lý bệnh tật sẽ được chính xác mà không nghi vấn gì. Không biết lý lẽ ấy thì đừng nói đến việc chẩn đoán, chỉ tổ làm rối loạn kinh sách mà thôi, cho nên thiên Đại yếu nói: “Thầy thuốc kém mới biết được một vài nét thì đã hí hửng tự đắc, cho rằng bao nhiêu bệnh chứng mình đã biết hết, nhưng kết quả là khi họ đoán bệnh nhiệt chưa dứt lời thì bệnh hàn đã phát ra. Họ không biết được cùng một khí như nhau mà bệnh tật sinh ra có chỗ thể hiện khác nhau, vì thế nên làm rối loạn phương pháp chẩn trị”. (Sự ứng dụng của lục khí, người kém chỉ biết được nửa, khí hóa ở kinh Quyết âm, người kém cho là hàn mà thực là ôn. Khí hóa ở kinh Thái dương người kém cho là nhiệt mà thực là hàn. Do đó tham khảo thì dùng sai đường lối, cho nên sự học vấn, nhận thức và áp dụng không đạt được một nửa. Trong một phương pháp tiêu với bản, hàn với nhiệt khác nhau, nói bản phải xét tới tiêu, bàn về tiêu phải tìm đến bản. Nói khí mà chưa biết hết tiêu với bản, luận bệnh mà chưa phân biệt được âm dương, bụng nghĩ mơ hồ không rõ chân lý, việc chữa bệnh càng làm cho rối loạn phương pháp, tức là bọn lang băm, lang thiếu trình độ).


Lý lẽ của tiêu bản tóm tắt mà bao la, từ nhỏ đến to, có thể nêu một ví dụ mà biết rõ được sự biến hóa của trăm bệnh. Cho nên hiểu biết được tiêu bản là dễ nắm vững mà không gây tác hại, xét biết được cái nào thuộc bản, cái nào thuộc tiêu thì có thể điều hòa được bệnh khí, biết chính xác được khí nào thắng khí nào phục là có thể làm mẫu mực cho mọi người mà việc học vấn có thể hiểu được triệt để. (Đây là nói 6 khí đều có theo tiêu bản mà chữa, mọi bệnh phải biết rõ tiêu bản của nó).

Thiên Đại yếu nói

Cẩn thận tuân thủ theo cơ chế của bệnh, căn cứ vào quan hệ sở thuộc của các chứng trạng xem có tà khí hay không tà khí, tất nhiên phải hết sức suy tầm, nghiên cứu. Thịnh vì sao mà thịnh, hư vì sao mà hư, trước hết phân tách trong 5 khí, khí nào thiên thắng? Trong năm tạng, tạng nào thụ bệnh? Sau đó sẽ sơ thông khí huyết làm cho nó điều đạt thông sướng mà trở lại bình thường . (Lời của thánh nhân rất là sâu xa, có tà hay không tà phải suy tầm, bệnh thịnh hay hư phải phân biệt. Như uống thuốc đại hàn mà bệnh nặng thêm, uống thuốc nhiệt mà không thấy nhiệt là không có hỏa. Nhiệt đến rồi nhiệt lại đi, ban ngày thấy ban đêm phục, đêm phát ngày hết, do thời tiết mà kích thích là không có hỏa, cần phải bổ hỏa. Lại như cho uống thuốc đại nhiệt mà bệnh nặng thêm, cho uống thuốc hàn mà không hàn là không có thủy, nóng rồi lại thôi, chợt đến chợt đi, chập chờn qua lại, lúc động lúc dứt là bệnh không có thủy, nên bổ thủy. Trong ngoài bất thông, mửa vọt, ăn không vào là có hỏa; bệnh ọe mà mửa, ăn vào lại mửa ra là không có hỏa. Cho uống thuốc hàn mà không hàn phải trách ở vô thủy, cho uống thuốc nhiệt mà vô nhiệt phải trách ở vô hỏa. Cho uống thuốc nhiệt mà bệnh khỏi không được lâu là phải trách ở tâm hư, cho uống thuốc hàn mà bệnh khỏi không được lâu là phải trách ở thận suy. Có hỏa phải tả hỏa, không hỏa phải bổ hỏa, hư thì phải bổ, thực thì phải tả, làm sao cho trên dưới không trở ngại, khí huyết được lưu thông điều hòa, thì hàn nhiệt tự điều hòa, âm dương tự điều đạt. Đó là nói bệnh có 19 chứng mà có phép chữa hay).


Xin cho biết rõ ràng về nội dung cách chế phương là thế nào?
  • Quân dược 1, thần dược 2, đấy là cách tổ hợp một tiểu phương;
  • Quân dược 1, thần dược 3, tá dược 5 đấy là cách tổ hợp một trung phương;
  • Quân dược 1, thần dược 3, tá dược 9, đấy là cách tổ hợp một đại phương.

Bệnh hàn dùng thuốc nhiệt, bệnh nhiệt dùng thuốc hàn, bệnh nhẹ cách chữa phải nghịch với bệnh khí, bệnh nặng cách chữa phải nương theo bệnh khí. (Bệnh còn nhẹ là do nhân hỏa (thực hỏa) ở trong, gặp cỏ cây thì bốc cháy, có thể lấy ướt át mà trừ được, có thể lấy nước mà tưới tắt, cho nên phải nghịch với tính của nó để tiêu trừ; bệnh đã nặng là do Long hỏa ở trong, hỏa này gặp ẩm ướt thì bốc lên, gặp nước thì bắt cháy, không biết tánh của nó mà còn dùng thủy thấp để tả, sức bốc lên sẽ làm cho ngất trời, đến chừng thế cùng lực tận thì mới thôi. Biết được cái tính chất trái thường của nó mà dùng hỏa để trừ nó đi thì cái bốc cháy tự tiêu, sự bốc lên cũng tự hết. Nghịch trị là dùng thuốc hàn để chữa nhiệt, dùng thuốc nhiệt chữa hàn. Tòng trị là dùng tính chất hàn nhiệt của thuốc nương theo tính chất hàn nhiệt của bệnh mà chữa. Cho nên câu sau có nói: Nghịch trị là chính trị, tòng trị là phản trị, tùy theo tình hình của bệnh mà áp dụng tòng trị nhiều hay ít).


Chỗ kiên thực phải tước phạt, có khách tà là phải khu trừ, vì lao lực nhọc mệt mà sinh bệnh phải ôn dưỡng, uất kết phải tán ngay, lưu trệ phải công trục ngay, bệnh khô háo phải tư nhuận, bệnh nguy cấp phải làm cho nó hòa hoãn, bệnh hao tán phải làm cho nó thu liễm lại, bệnh suy tổn phải ôn bổ nó, bệnh ở thượng bán thân phải làm cho mửa, bệnh ở hạ bán thân phải làm cho xổ, hoặc dùng cách xoa bóp, hoặc dùng thuốc thang, thuốc nước, thuốc giầm, thuốc tắm, thuốc rửa, hoặc bức cho xuất ra ngoài, hoặc đón chặn cơn phát bệnh, hoặc dùng lối mở cho thông, hoặc dùng cách phát tiết, đều căn cứ theo bệnh tình mà quy định. (Tùy chứng hậu của bệnh mà xử lý cho đúng là được).


Hoàng Đế nói
“Thế nào là nghịch tòng?

Kỳ Bá đáp: “Nghịch tức là lối chữa chính trị, tòng tức là lối chữa phản trị. Dùng thuốc để chữa theo lối phản trị nhiều hay ít là phải xem theo bệnh tình mà ấn định”. (Nói nghịch trị tức là chính trị, tòng trị tức là phản trị. Trái với bệnh khí tức là dùng thuốc hàn để chữa bệnh nhiệt, lấy thuốc nhiệt chữa bệnh hàn gọi là chính trị. Dùng thuốc thuận theo bệnh khí tức là phản trị).


Hoàng Đế hỏi
“Thế nào gọi là phản trị?

Kỳ Bá đáp: Tức là dùng thuốc nhiệt mà uống mát, dùng thuốc hàn mà uống nóng, dùng thuốc bế tắc để chữa bệnh bế tắc, dùng thuốc thông lợi để chữa bệnh thông lợi, cần tìm nguyên nhân bệnh ở đâu để đánh ngay vào chỗ chủ yếu của bệnh. Phải phân biệt thật giả, không bị hiện tượng giả tạo làm nhầm lẫn. Các phương tễ phản trị thoạt đầu thấy sự hàn nhiệt của dược tính tương tự với sự hàn nhiệt của bệnh tình, nhưng mà kết quả của nó thì lại trái ngược và có thể áp dụng lối chữa ấy để trừ được tích trệ, để tiêu tan được chỗ khối rắn, để hòa được khí huyết, có thể thu được kết quả chữa bệnh. (Dùng thuốc nhiệt mà uống mát thì sau khi nuốt khỏi cổ là mát đã hết mà nhiệt tính lại dấy lên. Dùng thuốc hàn mà uống nóng là vì trung tiêu đầy, hạ tiêu hư thì phải sơ thông trung tiêu và bổ mạnh ở hạ tiêu. Uống ít thì ủng trệ, uống nhiều thì tuyên thông, do đó trung tiêu đầy cũng tự giải được, hạ tiêu hư cũng tự khỏi, đó là dùng thuốc bế tắc để chữa chứng bế tắc. Lại có khi bệnh đại nhiệt kết tụ ở trong, ỉa chảy không cầm được, bệnh nhiệt thì chữa bằng thuốc hàn, bệnh kết tụ thì phải trừ đi, dùng thuốc hàn để hạ, để tan kết tụ, để cầm ỉa, đó là dùng thuốc thông lợi để chữa chứng thông lợi; dùng thuốc nhiệt chữa bệnh hàn cho uống nguội, dùng thuốc hàn chữa bệnh nhiệt cho uống nóng, tuy ban đầu thì giống nhau nhưng sau kết quả thì trái lại).



Điều hòa khí huyết có thể thu được kết quả chữa bệnh là thế nào?

Đáp: “Hoặc dùng lối tòng trị hoặc dùng lối nghịch trị, hoặc nghịch với bệnh khí mà thuận với chính khí, hoặc thuận theo bệnh khí mà nghịch với chính khí để sơ thông cơ chế của khí âm dương, làm cho trên dưới điều hòa, đấy là lối chữa “điều hòa khí huyết”. (Nghịch là nghịch lại bệnh khí để chữa thẳng (chính trị), tòng là thuận theo bệnh khí mà chữa trái lại. Nghịch với bệnh khí để chữa thẳng là làm cho bệnh khí phải thuận theo, thuận theo bệnh khí để chữa là làm cho nó được bình hòa, cho nên nói là nghịch tòng, hạ là sơ thông phần khí, làm cho đường lối khai thông thì khí cảm hàn nhiệt mà biến đổi).


Bệnh có ảnh hưởng trong ngoài với nhau thì trị liệu như thế nào?

Đáp: “Từ bên trong ảnh hưởng ra ngoài thì căn bản là do bên trong, cho nên phải điều trị bên trong trước. Từ ngoài ảnh hưởng vào trong thì căn bản là do bên ngoài, cho nên phải điều trị bên ngoài trước”. (Đó là chữa từ gốc bệnh).

Bệnh từ trong ảnh hưởng đến ngoài mà nặng về bên ngoài hơn thì trước phải trị bên trong rồi sau mới trị bên ngoài; bệnh từ ngoài ảnh hưởng vào trong mà nặng về bên trong thì trước chữa bên ngoài rồi sau mới chữa bên trong. (Tức là trước trừ tận gốc, sau mới thanh trừ cành lá).

Đã không phải từ bên trong, lại không phải từ bên ngoài, cho nên gọi là bất nội ngoại nhân, chỉ nên chữa bệnh chứng chủ yếu. (Không phải từ bên trong, không phải từ bên ngoài, là đằng nào cũng có một bệnh. Đó là nói về cách chữa biểu lý của bệnh có 3 phép: Một tiêu bản, hai là tiền hậu (Trước sau), ba là chủ bệnh).


Nói chung chữa bệnh hàn phải dùng thuốc nhiệt, chữa bệnh nhiệt phải dùng thuốc hàn, thầy thuốc không thể trái với tiêu chuẩn trị liệu có tính chất nguyên tắc ấy mà thay đổi cách chữa khác, nhưng có khi bệnh nhiệt cho dùng thuốc hàn mà nhiệt lại tăng thêm, có khi bệnh hàn dùng thuốc nhiệt mà hàn lại tăng thêm. Chẳng những hàn nhiệt vốn có vẫn không lui, trái lại bệnh mới lại tăng thêm, trường hợp này thì cách chữa như thế nào? (Tức là chữa bệnh mà bệnh không lui, trái lại vì dùng thuốc hàn thuốc nhiệt mà sinh ra bệnh hàn bệnh nhiệt mới).

Kỳ Bá đáp: “Các chứng cho uống thuốc hàn mà hóa nhiệt là âm bất túc, cần phải tư âm; cho uống thuốc nhiệt mà hóa ra hàn là dương bất túc, cần phải bổ dương. Đó là theo thuộc tính của nó. (Đây là nói bổ thêm nguồn của hỏa để tiêu trừ cái mây mù [64], làm mạnh chân thủy để chế lại sự chói sáng, cho nên nói là tìm thuộc tính của nó. Người thầy thuốc kém dùng thuốc nhiệt chữa bệnh hàn, dùng thuốc hàn chữa bệnh nhiệt, chữa hàn mà hàn càng tăng, công nhiệt mà nhiệt càng dữ, nhiệt sinh ra mà hàn ở trong vẫn còn, hàn sinh ra mà nhiệt ở ngoài chưa hết. Muốn công hàn thì sợ nhiệt không dám dùng, muốn chữa nhiệt thì sợ hàn rồi lại thôi, tiến thoái lưỡng nan, nguy nan đã đến, biết đâu được cái nguồn của tạng phủ có hàn nhiệt ôn lương sở chủ. Vả lại chữa tâm không cứ phải chữa bằng nhiệt, chữa thận không cứ phải chữa bằng hàn, trợ thêm cái dương khí của tâm dùng thuốc hàn cũng thông hành được, làm mạnh chân âm của thận dùng thuốc nhiệt cũng có thể giảm được, hoặc dùng thuốc nhiệt chữa bệnh nhiệt, dùng thuốc hàn chữa bệnh hàn là chữa đâu khỏi đấy.


Hoàng Đế nói
“Uống thuốc hàn mà lại nhiệt, uống thuốc nhiệt mà lại hàn là tại sao?

Kỳ Bá đáp: “Chỉ đơn thuần chữa cái khí lấn mạnh mà xem nhẹ mặt hư của nó, cho nên có cái kết quả trái nhau như vậy. (Vật thể có hàn nhiệt, khí tính có âm có dương, va chạm đến khí lấn mạnh thì làm tăng thêm tác dụng của nó. Vả lại, can khí ôn hòa, tâm khí nóng nảy, phế khí mát mẻ, thận khí lạnh lẽo, tỳ khí thì tổng hợp các khí trên. Mùa xuân dùng thuốc thanh chữa can mà lại ôn. Mùa hè lấy thuốc hàn chữa tâm mà lại nhiệt, mùa thu dùng thuốc ôn chữa phế mà lại thanh, mùa đông dùng thuốc nhiệt chữa thận mà lại hàn, bởi vì bổ mạnh vào khí lấn thịnh quá, bổ khí lấn thịnh quá thì khí hàn khí nhiệt của tạng tự nó sẽ nhiều ra).


5 vị sau khi vào dạ dày, vì tính ưa thích của mỗi tạng khí mà có tác dụng điều trị,

  • vị chua vào can trước,
  • vị đắng vào tâm trước,
  • vị ngọt vào tỳ trước,
  • vị cay vào phế trước,
  • vị mặn vào thận trước,

Tích lại lâu ngày thì có thể tăng cường các tạng khí ấy. Đó là quy luật chung nhất của dược vật sau khi vào dạ dày, nó phát huy tác dụng khí hóa. Nếu trường kỳ làm cho tạng khí tăng cường một cách phiến diện là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến chết non. (Vì vào can sinh ôn, vào tâm sinh nhiệt, vào phế sinh thanh, vào thận sinh hàn, vào tỳ là nơi chí âm, là nơi tổng hợp tứ khí, đều làm tăng thêm vị mà bổ ích cho khí. Cho nên mỗi vị tùy theo khí của bản tạng của nó, uống Hoàng liên, Khổ sâm lâu ngày mà trái lại sinh ra nhiệt là loại bệnh này, các vị khác cũng đều thế nhưng ý người khinh suất, không tinh tường đến chứng hậu cho nên nói lâu ngày mà tăng thêm khí là lẽ thường của sự vật. Khí tăng không ngớt, tạng khí thiên thắng thì có tạng khí thiên tuyệt thì lại có khí chết đột ngột. Cho nên nói khí tăng lên mãi là nguyên nhân của sự chết non. Vì thế, uống thuốc hàng ngày mà không đủ ngũ vị, không đủ tứ khí mà lại cứ uống nhiều ngày, tuy ban đầu có bổ ích, nhưng dùng lâu sẽ chết non, là nghĩa như thế. Bỏ không ăn cơm mà chỉ uống thuốc mà mau chết, tại sao vậy? Là vì không có vị của ngũ cốc bồi bổ cho nên như thế. Lại chỉ ăn một thứ ngũ cốc cũng mau chết non).


Phân biệt bệnh tật ở trong ngoài là làm sao?

Kỳ Bá đáp: Phương pháp điều khí cần phải phân biệt âm dương, xác định coi chúng ở trong hay ở ngoài, căn cứ vào vị trí của bệnh. Ở trong thì trị trong, ở ngoài thì trị ngoài, bệnh nhẹ thì điều lý, bệnh hơi nặng thì làm cho bình ổn, bệnh nặng lắm thì cướp đoạt, ở ngoài thì phát hãn, ở trong thì hạ.

Bởi vì hàn nhiệt ôn lương khác nhau mà làm giảm cái bệnh thế sở thuộc, tùy theo sự thích nghi của nó. (Bệnh có trong ngoài, chữa có biểu lý, chữa ở trong thì dùng phép nội trị mà điều hòa, chữa ở ngoài thì dùng phép ngoài trị mà điều hòa. Ngoài ra, bệnh nặng thì dùng cách bình khí để điều hòa, nặng quá không khỏi thì phải dùng cách cướp đoạt tà khí làm cho nó suy giảm đi. Ví như khí Tiểu hàn phải dùng phép ôn hòa, khí Đại hàn phải dùng phép nhiệt để chữa, khí lạnh nhiều phải dùng phép hạ để đoạt, tà không nặng lắm phải dùng phép nghịch để trừ, trừ không hết thì phải tìm cái sở thuộc của bệnh để làm cho bệnh thế tiêu dần, nếu bị cảm khí của Tiểu nhiệt thì dùng phép lương để hòa, khí của Đại nhiệt nhiều thì dùng phép hàn để chữa, khí nhiệt nhiều thì dùng hãn để phát ra. Phát ra không hết phải dùng phép nghịch để chế, chế mà tà không hết thì phải tìm cái sở thuộc của bệnh mà làm cho bệnh thế giảm đi, cho nên nói là hãn là hạ. Lấy sở thuộc của bệnh để làm giảm hàn nhiệt ôn lương, tùy chỗ của nó).



Cẩn thận tuân thủ theo phép tắc trên có thể chữa đâu khỏi đấy, khí huyết bình hòa thì sống lâu. (Tuân thủ phép tắc để chữa, hễ làm là đúng cho nên có thể sử lý được mọi việc, đó là phép tắc căn bản để bảo vệ khí huyết, là nguyên nhân làm cho chính khí không hao kiệt).


Phàm trước khi chẩn bệnh trước phải hỏi tỉ mỉ về sự thay đổi chức nghiệp, địa vị xã hội.

Nếu là người trước kia ở địa vị cao sang mà nay thấp hèn, tuy bệnh nhân không cảm ngoại tà mà bệnh tật cũng có thể từ trong mà phát sinh, thứ bệnh này gọi là “THOÁT DINH”. (Là vì tinh thần bị khuất, lúc sang thì được tôn quý, lúc hèn thì phải nhẫn nhục, trong lòng mãi lưu luyến cái quá khứ, chí lo nghĩ kết lại trong lòng, tuy không cảm phải ngoại tà mà bệnh từ trong sinh ra, huyết mạch hư giảm cho nên gọi là thoát dinh).


Hoặc trước kia giàu sang mà sau này nghèo khó, do đó mà phát bệnh gọi là “THẤT TÌNH”. Mấy loại bệnh này là do khí của ngũ tạng uất kết lại, khí huyết không lưu thông kết lại thành bệnh. (Giàu mà phóng túng đến khi nghèo thì mất hết của cải, trong lòng thì uất kết khổ sở, bên ngoài thì luyến tiếc đồ đạc, lòng luôn luôn tưởng nhớ, thần theo đó mà bốc lên đường vinh vệ, buồn cho nên lưu trệ, khí huyết không lưu thông tích lại mà thành bệnh).

Thân thể ngày càng gày mòn, khí hư tinh kiệt. (Khí huyết bức nhau, thân thể gày mòn cho nên thân thể ngày càng gày sút, khí quy về tinh, tinh nuôi khí. Làm cho khí hư không hóa tinh là vì tinh không có gì bồi bổ).Bệnh thế ngày càng nặng, dương khí tiêu tan, gai gai ớn lạnh, thường thường kinh hãi bất an. (Bệnh thế lâu ngày, cốc khí hết, dương khí tiêu tan ở trong cho nên gai gai ớn lạnh mà sợ hãi).Bệnh thế này sở dĩ ngày càng nặng là vì tình chí uất kết, bên ngoài thì hao tổn vệ khí, bên trong thì vinh huyết bị tiêu hao. (Huyết do ưu sầu nung nấu, khí do bi thương mà giảm đi, cho nên làm hao vệ khí ở ngoài, đoạt dinh khí ở trong. Tại sao bệnh hóa ra lâu ngày? Là vì khí bị hao mà đoạt mất).


Thầy giỏi mà không hỏi nguyên nhân bệnh, không hiểu bệnh tình đấy cũng là lỗi lầm thứ nhất trong công tác chẩn trị.Phàm khi chẩn bệnh phải hỏi họ về tình hình ăn uống làm lụng nghỉ ngơi và hoàn cảnh xung quanh thế nào. (Sự ăn uống làm lụng nghỉ ngơi mỗi nơi mỗi khác nhau cho nên phải hỏi bệnh nhân).


Về mặt tinh thần có những sự vui sướng đau khổ bất ngờ hay không, hoặc là trước vui sau khổ? Bởi vì những nét sinh hoạt bất thường ấy đều có thể làm tổn hại đến tinh khí, làm cho tinh khí suy kiệt, hình thể bại hoại. Mừng thì khí hoãn, buồn thì khí tiêu, buồn thương ở trong thì tinh khí kiệt hết mà chết, cho nên tinh khí kiệt hết thì hình thể bại hoại, tâm thần tan mất. Thầy kém chữa bệnh không biêt bổ tả, không biết bệnh tình đến nỗi tinh ba ngày càng suy kém, tà khí sẽ vây ráp, đó là lỗi lầm thứ hai trong công tác chẩn trị. (Không biết tình hình khác nhau của sự mừng giận buồn vui, đại khái lúc nào cũng bổ tả thì khí tinh ba của ngũ tạng ngày càng thoát hết, tà khí sẽ lấn vào mà thôn tính hết chân khí).


Người thầy thuốc chẩn mạch giỏi tất nhiên phải biết phân tích so sánh cái thường, cái khác thường, nắm vững sâu sắc sự biến hóa. Nếu như thầy thuốc mà không hiểu được lẽ này thì sự chẩn đoán của họ sẽ không cao kiến, thứ chẩn đoán không cao kiến này là cái lỗi lầm thứ ba trong công tác chẩn trị. (Trong mục Tòng dung luận nói: “Mạch tỳ hư đi phù như mạch phế, mạch vị đi phù như mạch tỳ, mạch can đi cấp, trầm, tán giống như mạch thận. Đó là sự rối loạn chốc lát của thầy thuốc, lấy phương pháp phân tích so sánh mà phân biệt).


Chẩn bệnh có ba loại tình huống cần phải chú ý,

  • Trước hết là phải hỏi địa vị xã hội của bệnh nhân sang hay hèn,
  • Thứ đến hỏi tình hình thay đổi địa vị của họ như thế nào,
  • Sau hết là tìm hiểu xem có mộng tưởng gì?

(Sang thì hình vui chí vui, hèn thì hình khổ chí khổ, vui khổ khác nhau cho nên trước hết phải hỏi đến).


Bởi vì người trước kia vốn là quan sang tước trọng, nhất đán bị sa cơ thất thế, tuy không bị trúng ngoại tà mà về mặt tinh thần đã bị tổn thương trước, uất ức không thư thái làm cho thân hình bại hoại, thậm chí chết. Như trước kia là người giàu có một mai lại nghèo nàn, tuy không bị ngoại tà làm tổn hại cũng có thể phát sinh ra chứng lông da khô queo, gân mạch co quắp sinh ra bệnh bại sụi hoặc co quắp. (Vì tà khí lưu lại ngũ ở tạng, bệnh có chỗ phát ra nên sinh như thế).Những bệnh như thế này, nếu thầy thuốc không có thái độ nghiêm túc, không thể thuyết phục giáo dục để làm chuyển biến được tinh thần và ý thức của bệnh nhân, biểu hiện cái nhu nhược bất tài thì không thể sử lý gì được, tình chí của bệnh nhân không chuyển biến, trị liệu như thế này cũng không đem lại kết quả, không thể xử lý tốt thứ bệnh này, đấy là cái lỗi lầm thứ tư trong công tác chẩn trị.


Phàm khi chẩn trị bệnh tật tất phải hiểu rõ nguyên nhân phát bệnh và quá trình diễn biến sau khi phát bệnh mới có thể xét biết gốc ngọn, nắm vững bệnh tình. Lúc bắt mạch định bệnh cần chú ý sự quan hệ trong vấn đề nam nữ như sinh ly tử biệt, tình chí uất kết, lo sầu, sợ hãi, mừng giận…đều có thể làm cho ngũ tạng rỗng không, huyết khí ly tán. Nếu như thầy thuốc mà không biết điều này là cái lỗi lầm thứ năm trong công tác chẩn trị. (Ly gián tình thân yêu, cắt đứt điều ưa thích, chất chứa sự lo nghĩ, cố kết sự giận dữ. Ly gián tình thân yêu là mất hồn, dứt mất điều ưa thích là mất khí, chất chứa sự lo nghĩ thì thần mệt, cố kết sự giận dữ thì chí bị uất, lo sầu thì khí bế tắc mà không lưu thông, sợ hãi thì hoảng hốt mà thất thần, giận dữ thì mê lẫn mà không chữa được, mừng vui thì sợ hãi mà khí không tàng. Do đó mà sinh ra 8 chứng trên, cho nên ngũ tạng rỗng không, huyết khí ly tán chỉ công phạt mà không hiểu rõ. Như thế thì nói làm sao được?).


Phàm khi chẩn đoán lâm sàng mà không biết lẽ âm dương nghịch tòng đấy là nguyên nhân thất bại thứ nhất trong công trị liệu.Theo thầy học nghề chưa tốt nghiệp, học thuật chưa tinh thông, nhắm mắt áp dụng ẩu các phương pháp trị liệu, cho thuyết bậy bạ làm chân lý, khéo đặt tên bệnh để khoe khoang bản thân, dùng càn biếm thạch làm cho thân thể về sau sinh tật, đấy là nguyên nhân thất bại thứ hai trong công tác trị liệu.

Không phân biệt các nếp sinh hoạt của người giàu sang, kẻ nghèo hèn, không hiểu rõ hoàn cảnh cư trú tốt hay xấu, không chú ý đến sự ấm lạnh của thân thể, không xét nét đến sự cấm kỵ trong ăn uống, không phân biệt đến tính tình dũng khiếp của người, không biết ứng dụng phương pháp so sánh sự dị đồng để tiến hành phân tích, những loại chứng như thế đủ làm cho mình bối rối rồi, còn lấy đâu để bàn chuyện cao xa. Đấy là nguyên nhân thất bại thứ ba trong công tác trị liệu.

Chẩn đoán bệnh mà không hỏi bệnh phát từ lúc nào? Về phương diện tinh thần có bị kích thích hay không, về phương diện ăn uống có tiết chế hay không? Về sinh hoạt khởi cư có thường vượt quy hay không? Hay là do ngộ độc?

Những vấn đề này cần phải chú ý trước hết. Không hỏi rõ ràng những điều ấy trước mà sờ tay bắt mạch ngay, làm kiểu ấy là không có thể chẩn đoán ra được bệnh, buột miệng là nói bậy, gọi bệnh là nói càn kiểu ấy là do nghề kém sẽ tạo thành hậu quả tai hại nghiêm trọng. Đấy là nguyên nhân thất bại thứ tư trong công tác trị liệu.

  • Nguyên nhân thất bại thứ nhất là không biết lẽ âm dương thuận nghịch, lẽ âm dương thuận nghịch không phải chỉ có một mối.

Mạch Nhân nghinh ở tay trái là dương, mùa xuân hè đi mạch Hồng Đại là thuận, trầm tế là nghịch. Mạch Khí khẩu ở tay phải là âm, về mùa đông đi Trầm Tế là thuận, Hồng Đại là nghịch.

Đàn ông mạch tay trái to là thuận, đàn bà mạch tay phải to là thuận.

Bệnh ngoại cảm thuộc dương, thấy dương mạch là thuận, thấy âm mạch là nghịch. Bệnh nội thương thuộc dương, thấy dương mạch là thuận, thấy âm mạch là nghịch.Bệnh nội thương thuộc âm, thấy âm mạch là thuận, thấy dương mạch là nghịch, còn như màu sắc thấy ở trên ở dưới, ở bên phải bên trái, đều là những điều mấu chốt dễ đoán bệnh, trên là nghịch dưới là thuận.

Đàn bà bên phải là nghịch, bên trái là thuận.

  • Nguyên nhân thất bại thứ hai là không theo đúng phương pháp trị liệu của thầy dạy, bắt trước tà thuật nhố nhăng, lấy cái sai làm đúng, dùng bừa biếm thạch.
  • Nguyên nhân thất bại thứ ba là không thích nghi với tình hình của bệnh nhân, không hiểu rõ phương pháp so sánh phân loại bệnh).
  • Nguyên nhân thất bại thứ tư là không nghiên cứu nguyên nhân sinh bệnh, bắt mạch bừa bãi, gọi tên bệnh là sai).

Người thông minh không chủ trương để có bệnh rồi mới lo chữa bệnh, mà cần phòng bệnh trước khi chưa có bệnh . Việc trị nước cũng thế, không phải để cho có loạn rồi mới nghiên cứu dẹp loạn, mà lúc chưa có loạn phải ngăn ngừa đừng để cho loạn lạc phát sinh. Giả sử bệnh tật phát sinh rồi mới trị liệu, chiến loạn đã hình thành rồi mới lo bình định thì có khác chi khát nước rồi mới nghĩ đến việc đào giếng, chiến tranh đã bùng nổ rồi mới nghĩ đến việc chế tạo vũ khí, thế thì chẳng muộn lắm sao?

  • Hình thể yếu nhược, khí hư thì chết. (Vì trong ngoài đều bất túc).
  • Hình khí hữu dư mà mạch khí bất túc thì chết. (Tạng suy cho nên mạch bất túc).
  • Mạch khí hữu dư mà hình bất túc thì sống. (Tạng thịnh cho nên mạch khí hữu dư).

Cho nên chẩn đoán phải có phương pháp, đứng ngồi phải có chừng mực. (Đứng ngồi có chừng mực thì sức thở điều hòa, cho nên phương pháp chẩn đoán phải vận dụng như trên). Ra vào phải có chừng mực để chuyển vận thần minh. (Tại sao nói sự đứng ngồi phải có chừng mực? Là vì ra vào đi đứng thì thần minh sẽ tùy đó mà chuyển vận).

Cần phải giữ sự thanh tĩnh, quan sát khí sắc hình thể, xét rõ khí hậu thời tiết, phân biệt bệnh vị của ngũ tạng rồi sau mới xem mạch để định rõ sự sống chết.