Lịch sử 12/Nước Mĩ

From Wikiversity
Jump to navigation Jump to search

Nước Mĩ từ 1945 - 1973[edit]

Về kinh tế[edit]

- Sản lượng công nghiệp chiếm 56,5% sản lượng công nghiệp thế giới (1948).

- Sản lượng nông nghiệp 1949 bằng 2 lần sản lượng của Anh, Pháp, Đức, Italia, Nhật cộng lại.

- Nắm trên 50% tàu bè đi lại trên biển ; ¾ dự trữ vàng của thế giới.

- Kinh tế Mĩ chiếm tới gần 40% tổng sản phẩm kinh tế thế giới.

=>  Khoảng 20 năm sau chiến tranh, Mĩ là trung tâm kinh tế - tài chính lớn nhất thế giới.

Nguyên nhân:

- Lãnh thổ rộng lớn, tài nguyên phong phú, nguồn nhân lực dồi dào, có trình độ kĩ thuật cao, năng động, sáng tạo.

- Mĩ lợi dụng chiến tranh để làm giàu, thu lợi từ buôn bán vũ khí.

- Ứng dụng thành công thành tựu khoa học kĩ thuật hiện đại vào sản xuất.

- Tập trung sản xuất và tư bản cao, các công ti độc quyền có sức sản xuất lớn và cạnh tranh có hiệu quả.

+ Do chính sách và biện pháp điều tiết có hiệu quả của nhà nước.

Về Khoa học Kĩ thuật[edit]

- Mĩ là nơi khởi đầu của cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật hiện đại và đạt được nhiều thành tựu lớn.

- Mĩ là nước đi đầu trong các lĩnh vực:

+ Chế tạo công cụ mới : máy tính điện tử, máy tự động.

+ Chế tạo vật liệu mới : pôlime, vật liệu tổng hợp.

+ Tìm ra năng lượng mới : nguyên tử nhiệt hạch.

+ Chinh phục vũ trụ : đưa người lên Mặt Trăng.

+ Đi đầu trong cuộc “cách mạng xanh” trong nông nghiệp.

Về chính trị - xã hội (đọc thêm)[edit]

- Đối nội:

+  Chính sách đối nội chủ yếu của Mĩ đều nhằm cải thiện tình hình xã hội, khắc phục những khó khăn trong nước.

+  Xã hội Mĩ không hoàn toàn ổn định, chứa đựng nhiều mâu thuẫn : giai cấp, sắc tộc, nạn thất nghiệp, nhiều tệ nạn xã hội khác.

- Đối ngoại:

+ Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Mĩ triển khai chiến lược toàn cầu với tham vọng bá chủ thế giới.

- Mục tiêu :

+ Ngăn chặn, đẩy lùi và tiến tới tiêu diệt CNXH.

+ Đàn áp phong trào cách mạng thế giới.

+ Khống chế, chi phối các nước Đồng minh.

-Thực hiện: khởi xướng cuộc Chiến tranh lạnh, gây chiến tranh xung đột ở nhiều nơi, tiêu biểu là chiến tranh xâm lược Việt Nam (1954 – 1975), can thiệp lật đổ chính quyền ở nhiều nơi trên thế giới.

+  Mĩ còn bắt tay với các nước lớn XHCN: 2/1972 Tổng thống Mĩ thăm Trung Quốc, 5/1972 thăm Liên Xô nhằm thực hiện hòa hoãn với 2 nước lớn để dễ bề chống lại phong trào cách mạng thế giới.

Nước Mĩ từ 1973 – 1991[edit]

Kinh tế[edit]

- Năm 1973, do tác động của cuộc khủng hoảng năng lượng thế giới, kinh tế Mỹ lâm vào một cuộc khủng hoảng và suy thoái, kéo dài tới năm 1982.

- Từ năm 1983 trở đi, kinh tế Mỹ phục hồi và phát triển trở lại, nhưng cũng chỉ ở tốc độ trung bình so với Tây Âu và Nhật Bản. Tuy vẫn là nước đứng đầu thế giới về sức mạnh kinh tế - tài chính, nhưng tỉ trọng của kinh tế Mỹ giảm sút nhiều so với trước.

* Khoa học - kĩ thuật:

- Mỹ tiếp tục sự phát triển, nhưng ngày càng bị cạnh tranh ráo riết bởi Tây Âu và Nhật Bản.

Đối ngoại[edit]

- Sau thất bại ở Việt Nam, vẫn tiếp tục triển khai chiến lược toàn cầu, tăng cường chạy đua vũ trang, đối đầu với Liên Xô.

- Từ giữa những năm 80, Mĩ điều chỉnh chính sách đối ngoại, xu hướng đối thoại ngày càng chiếm ưu thế trong quan hệ quốc tế. Trước sự cạnh tranh ngày càng mạnh của Tây Âu và Nhật Bản, Mĩ và Liên Xô tuyên bố chấm dứt chiến tranh lạnh, mở ra thời kì mới trong quan hệ quốc tế.

- Tháng 12/1989, Mĩ và Liên Xô tuyên bố chấm dứt Chiến tranh lạnh.

Nước Mĩ từ 1991 – 2000[edit]

* Kinh tế: Trong suốt thập niên 90, Mĩ có trải qua những đợt suy thoái ngắn, nhưng kinh tế Mĩ vẫn đứng hàng đầu thế giới: năm 2000, GDP của Mĩ đạt 9.765 tỉ USD, thu nhập bình quân đầu người là 34.600 USD.

* Khoa học kĩ thuật: tiếp tục phát triển chiếm 1/3 phát minh, sáng chế của toàn thế giới.

* Chính trị và Đối ngoại:

- Đối nội:

+ Chính quyền C.Lin-tơn cố gắng ứng dụng 3 giá trị: cơ hội, trách nhiệm và cộng đồng để vượt qua những thử thách.

+ Theo đó, chính quyền cố gắng tạo thêm nhiều cơ hội việc làm, mở rộng thị trường và tập trung đầu tư cho con người, đồng thời đòi hỏi việc nâng cao trách nhiệm của mỗi cá nhân, của chính phủ và của toàn xã hội trên cơ sở đoàn hết cộng đồng gia đình, láng giềng, dân tộc.

- Đối ngoại:

+ Trong bối cảnh “ chiến tranh lạnh” kết thúc, trật tự thế giới mới chưa được định hình, ở thập niên 90 Mỹ đã triển khai chiến lược “ Cam kết và mở rộng” với 3 trụ cột chính là:

+ Bảo đảm an ninh với một lực lượng quân sự mạnh và sẵn sáng chiến đấu cao.

+ Tăng cường khôi phục và phát triển tính năng động và sức mạnh nền kinh tế Mỹ.

+ Sử dụng khẩu hiệu “ Dân chủ” ở nước ngoài như một công cụ can thiệp vào công việc nội bộ của các nước khác.

Tham khảo[edit]

  • SGK Lịch sử 12 - Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, 2020.