Lịch sử 12/Tây Âu

From Wikiversity
Jump to navigation Jump to search

Tây Âu từ năm 1945 đến năm 1950[edit]

Về kinh tế[edit]

- Sau chiến tranh thế giới thứ hai Tây Âu bị tổn thất nặng, nhiều thành phố, nhà máy bị tàn phá nên sản xuất bị suy giảm.

- Với sự cố gắng và nhận viện trợ Mỹ qua "Kế hoạch Mác –san”, nền kinh tế phục hồi và lệ thuộc Mỹ.

Về chính trị[edit]

- Ưu tiên hàng đầu là củng cố chính quyền của giai cấp tư sản, ổn định tình hình chính trị – xã hội, hàn gắn vết thương chiến tranh, phục hồi nền kinh tế, liên minh chặt chẽ với Mỹ đồng thời tìm cách trở lại thuộc địa của mình.

+ Giai câp tư sản gạt những người công sản ra khỏi chính phủ - Pháp, Anh, Ý.

+ Tây Âu gia nhập khối Quân sự Bắc Đại Tây Dương –NATO- do Mỹ đứng đầu .+ Pháp xâm lược trở lại Đông Dương , Anh trở lại Miến Điện và Mã lai; Hà lan trở lại Inđônêxia.

=> Từ 1945 – 1950, cơ bản ổn định và phục hồi về mọi mặt, trở thành đối trọng của khối XHCN Đông Âu mới hình thành

Tây Âu từ năm 1950 đến năm 1973[edit]

Về kinh tế[edit]

-Từ thập niên 50 đến đầu những năm 70 của thế kỉ XX, nền kinh tế của các nước tư bản chủ yếu ở Tây Âu đều có sự phát triển nhanh.

- Từ đầu thập niên 70 trở đi, Tây Âu trở thành một trong bat rung tâm kinh tế - tài chính lớn của thế giới ( cùng với Mỹ và Nhật Bản). Các nước tư bản chủ yếu ở Tây Âu như Anh, Pháp, CHLB Đức, I-ta-li-a,… đều có nên khoa học – kỹ thuạt phát triển cao, hiện đại.

- Nguyên nhân:

+ Các nước này đã phát triern và áp dụng thành công các thành tựu của cách mạng khoa học – kỹ thuật hiện đại.

+ Nhà nước đóng vai trò lớn trong việc quản lí, điều tiết, thúc đẩy nền kinh tế.

+ Các nước tư bản ở tây Âu đã tận dụng tốt các cơ hội bên ngoài để phát triển như nguồn viện trợ của Mỹ, tranh thủ được giá nguyên liệu rẻ từ các nước thuộc thế giới thứ ba, hợp tác có hiệu quả trong khuôn khổ của Cộng đồng châu Âu ( EC),…

+ Sự nỗ lực lao động của các tầng lớp nhân dân.

Đối ngoại[edit]

- Một mặt liên minh chặt chẽ với Mỹ (Anh, Đức, Ý ), mặt khác cố gắng đa phương hóa quan hệ đối ngoại (Pháp, Thụy Điển, Phần Lan).

- Chính phủ một số nước ủng hộ cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Việt Nam, ủng hộ Israel chống Ả-rập, CHLB Đức gia nhập NATO (5/1955)…

- Pháp phản đối trang bị vũ khí hạt nhân cho CHLB Đức, chú ý phát triển quan hệ với Liên Xô và các nước XHCN khác, rút khỏi Bộ chỉ huy NATO và buộc Mỹ rút các căn cứ quân sự ra khỏi đất Pháp.

- 1950 – 1973: nhiều thuộc địa tuyên bố độc lập , đánh dấu thời kỳ "phi thực dân hóa” trên phạm vi thế giới.

Tây Âu từ năm 1973 đến năm 1991[edit]

Kinh tế[edit]

- Do tác động của cuộc khủng hoảng năng lượng thế giới, cũng như từ Mỹ và Nhật Bản, từ năm 1973, nhiều nước tư bản ở Tây Âu lâm vào tình trạng khủng hoảng và suy thoái, hoặc phát triển không ổn định, kéo dài đến đầu thập niên 90.

-Tuy vẫn là một trong 3 trung tâm kinh tế lớn của thế giới, nhưng kinh tế tư bản chủ nghĩa ở một số nước gặp không ít khó khăn. Sự phát triển thường xen kẽ với các cuộc khủng hoảng, suy thoái và lạm phát tăng cao.

- Tây Âu luôn gặp sự cạnh tranh quyết liệt từ Mỹ và Nhật Bản, cùng các nước công nghiệp mới. Quá trình “ liên hợp hóa” Tây Âu trong khuân khổ của cộng đòng châu Âu ( EC) vẫn còn nhiều khó khăn và trở ngại.

Đối ngoại[edit]

- 11/1972: Việc kí kết hiệp định về những cơ sở của quan hệ giữa CHLB Đức và CHDC Đức làm cho tình hình Tây Âu dịu đi. Đến năm 1989, Bức tường Berlin bị xóa bỏ và nước Đức tái thống nhất (3/10/1990)

- Các nước Tây Âu ký Định ước Henxinki về an ninh và hợp tác châu Âu (1975).

Tây Âu từ năm 1991 đến năm 2000[edit]

Về kinh tế[edit]

- Bước vào đầu thập niên 90, nền kinh tế nhiều nước Tây Âu đã trải qua một đợt suy thoái ngắn.

- Từ khoảng năm 1994 trở đi, kinh tế Tây Âu đã bắt đầu phục hồi và phát triển trở lại.

- Cùng với điều đó, các nước tư bản phát triển ở Tây Âu đều có nền khoa học- kỹ thuật tiên tiến hiện đại, đạt được nhiều thành tựu vè văn hóa, giáo dục, văn học, nghệ thuật, thể thao.

Về chính trị và đối ngoại[edit]

- Cơ bản là ổn định.

- Có sự điều chỉnh quan trong trong bối cảnh Chiến tranh lạnh” kết thúc, trật tự hai cực I –an- ta tan rã.

- Nếu như Anh vẫn duy trì liên minh chặt chẽ với Mỹ thì Pháp và Đức đã trở thành những đối trọng đáng chú ý với Mỹ trong nhiều vấn đề quốc tế quan trọng.

- Mở rộng quan hệ với các nước đang phát triển ở Á, Phi, Mỹ La-tinh, các nước thuộc Đông Âu và các nước SNG.

Liên minh châu Âu (EU)[edit]

Quá trình hình thành và phát triển[edit]

- Ngày 18/04/1951, 6 nước Tây Âu (Pháp, Tây Đức, Italia, Bỉ, Hà Lan, Luc-xăm bua (Lucxemburg) thành lập "Cộng đồng than – thép châu Âu” (ECSC).

- Ngày 25/03/1957, sáu nước ký Hiệp ước Roma thành lập Cộng đồng năng lượng nguyên tử châu Âu” (EURATOM) và Cộng đồng kinh tế châu Âu” (EEC).

- Ngày 1/7/1967, ba tổ chức trên hợp nhất thành Cộng đồng châu Âu (EC).

- Năm 1991 Các nước thành viên EC đã kí Hiệp ước Maxtrich về việc thành lập Liên minh Châu Âu (EU).

- Năm 1995, bảy nước Eu hủy bỏ việc kiểm soát đi lại của công dân các nước này qua biên giới của nhau.

- Năm 1999, EU phát hành đồng tiên chung Châu Âu - Euro.

- 01/05/2004, kết nạp thêm 10 nước thành viên Đông Âu, nâng tổng số thành viên lên 25.

- Năm 2007 kết nạp thêm 2 nước, nâng tổng số thành viên EU lên 27 nước

Vai trò của Liên minh Châu Âu[edit]

- Thúc đẩy sự liên minh, hợp tác giữa các nước thành viên trong mọi lĩnh vực: kinh tế, tiền tệ, chính trị, đối ngoại và an ninh với việc sử dụng đồng tiền chung Euro, hủy bỏ việc kiểm soát đi lại qua biên giới của các nước thành viên.

- EU là tổ chức liên kết chính trị - kinh tế lớn nhất hành tinh, chiếm hơn 1/4 GDP của toàn thế giới, có trình độ khoa học - kĩ thuật tiên tiến nhất.

Mối quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và EU[edit]

- Năm 1990, quan hệ Việt Nam - EU chính thức được thiết lập.

- Từ khi thiết lập mối quan hệ ngoại giao đến nay, quan hệ giữa Việt Nam và EU ngày càng phát triển tích cực và toàn diện. Đặc biệt là sự kiện hai bên khởi động đàm phán Hiệp định thương mại tự do (FTA) tháng 6/2012, đã đánh dấu bước phát triển quan trọng, tạo cơ sở vững chắc để thúc đẩy quan hệ Việt Nam và EU phát triển mạnh mẽ và gần gũi hơn nữa.

Tham khảo[edit]

  • SGK Lịch sử 12 - Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, 2020.