Lịch sử 12/Việt Nam trong năm đầu sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mĩ, cứu nước năm 1975

From Wikiversity
Jump to navigation Jump to search

Tình hình hai miền Nam Bắc sau năm 1975[edit]

– Đại thắng màu xuân năm 1975 đã đưa nước ta bước vào kỉ nguyên độc lập thống nhất, đi lên chủ nghĩa xã hội.

– Trải qua hơn hai mươi năm (1954 – 1975) tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa, miền Bắc đạt được những thành tựu to lớn và toàn diện, xây dựng được cơ sở vật chất – kĩ thuật ban đầu của chủ nghĩa xã hội. Nhưng cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân của Mĩ đã tàn phá nặng nề gây hậu quả lâu dài đối với miền Bắc.

– Miền Nam đã hoàn toàn giải phóng, chế độ thực dân mới của Mĩ cùng bộ máy chính quyền Sài Gòn ở trung ương bị sụp đổ, nhưng cơ sở chính quyền này ở địa phương cùng bao di hại xã hội vẫn còn tồn tại. Cuộc chiến tranh của Mĩ gây hậu quả nặng nề, nhiều làng mạc, đồng ruộng bị tàn phá, nửa triệu hecta ruộng đất bị bỏ hoang, một triệu hecta bị chất độc hóa học và bom đạn cày xới. Vô số bom mìn còn vui lấp trên các cánh đồng, ruộng vườn, nơi cư trú của nhân dân. Đội ngũ thất nghiệp có tới hàng triệu người, số người mù chữ chiếm tỉ lệ lớn trong dân cư.

– Kinh tế miền Nam trong chừng mực nhất định phát triển theo hướng tư bản, song về cơ bản vẫn mang tính chất của nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, sản xuất nhỏ và phân tán phát triển mất cân đối, lệ thuộc nặng nề từ viện trợ của bên ngoài.

Hoàn thành thống nhất đất nước về mặt nhà nước (1975 – 1976)[edit]

Hoàn cảnh[edit]

Miền Bắc

+ Thuận lợi: Từ 1954 – 1975, cách mạng xã hội chủ nghĩa miền Bắc đã đạt được những thành tựu to lớn, toàn diện. Bước đầu xây dựng cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã hộ.

+ Khó khăn: Hậu quả chiến tranh nặng nề. Nhiều làng mạc, ruộng đồng bị tàn phá, 50 vạn ha đất bị bỏ hoang, 1 triệu ha rừng bị chất độc và bom đạn. Hàng triệu người thất nghiệp.

Miền Nam

+ Thuận lợi: Miền Nam hoàn toàn giải phóng. Chế độ thực dân mới và chính quyền Sài Gòn hoàn toàn sụp đổ.

+ Khó khăn: Kinh tế miền Nam phát triển theo hướng tư bản chủ nghĩa, nhưng vẫn là kinh tế nông nghiệp lạc hậu, sản xuất nhỏ, phân tán, mất cân đối, lệ thuộc bên ngoài. Nhiều tệ nạn xã hội còn tồn tại.

Yêu cầu đặt ra

– Chấm dứt tình trạng chia cắt .

– Hai miền Nam – Bắc đều phải khắc phục hậu quả chiến tranh, khôi phục và phát triển kinh tế để đi lên chủ nghĩa, mở ra kỷ nguyên mới: độc lập – tự do – chủ nghĩa xã hội

Quá trình hoàn thành thống nhất đất nước về mặt Nhà nước[edit]

* Hội nghị hiệp thương Bắc – Nam (từ 15 đến 21/11/1975) tại Sài Gòn, nhất trí thống nhất hoàn toàn hai miền trong một Nhà nước chung.

* Tổng tuyển cử bầu Quốc hội chung (25/4/1976): Quốc hội thống nhất họp cuối tháng 6 đầu tháng 7/1976 đã:

+ Lấy tên nước: Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

+ Thủ đô: Hà Nội.

+ Quốc kì là cờ đỏ sao vàng

+ Quốc huy mang dòng chữ Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

+ Quốc ca là bài: Tiến quân ca.

+ Thành phố Sài Gòn – Gia Định đổi tên: Thành phố Hồ Chí Minh.

– Bầu các cơ quan, chức vụ lãnh đạo cao nhất của Việt Nam thống nhất: Chủ tịch nước Cộng hoà XHCN Việt Nam là Tôn Đức Thắng, Chủ tịch Uỷ ban Thường vụ Quốc hội là Trường Chinh, Thủ tướng Chính phủ là Phạm Văn Đồng.

– Ngày 31/7/1977: Đại hội đại biểu các mặt trận ở hai miền Nam – Bắc họp tại TP Hồ Chí Minh quyết định thống nhất thành Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

– Ngày 18/12/1980: Quốc hội thông qua Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Ý nghĩa

– Với kết quả kì họp thứ nhất Quốc hội khóa VI, công việc thống nhất đất nước về mặt Nhà nước đã hoàn thành. Từ đây việc tiếp tục hoàn thành thống nhất tên tất cả các lĩnh vực chính trị, tư tưởng, văn hóa, xã hội sẽ gắn liền với việc thực hiện nhiệm vụ của cách mạng xã hội chủ nghĩa trong phạm vi cả nước.

– Hoàn thành thống nhất đất nước về mặt Nhà nước đã tạo nên những điều kiện chính trị cơ bản phát huy sức mạnh toàn diện đất nước, những điều kiện thuận lợi để cả đất nước đi lên chủ nghĩa xã hội, những khả năng to lớn để bảo vệ Tổ quốc và mở rộng mối quan hệ với các nước trên thế giới.

– Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam vừa thành lập (2/7/1976) đã có 94 nước chính thức công nhận và đặt quan hệ ngoại giao (đến cuối năm 1980 có 106 nước). Ngày 20/7/1977, nước ta trở thành thành viên thứ 144 của Liên hiệp quốc.

Mở rộng quan hệ quốc tế

– Ngày 20/9/1977: Việt Nam gia nhập Liên hợp quốc (hội viên thứ 149).

– Là thành viên của hơn 20 tổ chức quốc tế khác.

Tham khảo[edit]

  • SGK Lịch sử 12 – Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, 2020.