Những điều chưa biết về IQ

From Wikiversity
Jump to navigation Jump to search

Những điều chưa biết về IQ[edit]

Trường học ảnh hưởng tới IQ[edit]

Sự thông minh nói chung không ảnh hưởng tới quyết định đến trường hay không nhưng việc đến trường học giúp học sinh tăng chỉ số IQ của mình. Càng nghỉ học sớm thì nguy cơ thua kém về IQ so với các bạn cùng trang lứa càng tăng.

Theo kết quả khảo sát em có IQ thấp của Tổ chức giáo dục mở rộng của London, IQ của các em giảm dần theo các nhóm tuổi từ bé đến lớn: nhóm 4 – 6 tuổi có IQ = 90, nhóm tuổi lớn nhất 12 – 20 tuổi là 60.

- Nghiên cứu tại Nam Phi và Mỹ cho thấy mỗi năm trì hoãn đi học, IQ của trẻ giảm 5 điểm.
- IQ chịu ảnh hưởng của thời gian đi học. Cuộc điều tra ở Mỹ với những người ở lại trường lâu hơn tránh đi lính và người không có động cơ này. Kết quả, người ở lại trường lâu hơn có IQ cao hơn, khả năng kiếm tiền cũng hơn 7%.
- Nghỉ học giữa chừng làm giảm IQ.
- Chỉ số IQ bị ảnh hưởng bởi kỳ nghỉ hè. Các nhà nghiên cứu đã chọn 2 học sinh kiểm tra riêng biệt trước và sau khi nghỉ hè. Kết quả, có sự suy giảm trong hệ thống IQ ở 2 em này so với cuối năm học.

IQ không chịu ảnh hưởng của thứ tự sinh[edit]

Quan niệm con cả khôn ngoan và có khả năng lãnh đạo hay em khôn hơn anh chị không đúng. Thậm chí, có người còn cho rằng trong gia đình đông con IQ thấp.

Thực tế, những người khôn ngoan có xu hướng sinh ít con nhưng sự thực là không hề có liên hệ hay ảnh hưởng nào gây tác động giữa quy mô gia đình và IQ của trẻ. Thứ tự sinh không dự báo trước IQ của trẻ. Ngoài ra, 2 anh em ruột sinh gần nhau có thể có IQ tương đồng hơn so với trẻ sinh cách xa nhau vẫn chưa có cơ sở chứng minh.

Sữa mẹ liên quan đến IQ[edit]

Những trẻ được nuôi bằng sữa mẹ, được mẹ dành nhiều thời gian chăm sóc thường có IQ cao hơn trẻ khác. Kết quả nghiên cứu những trẻ cùng điều kiện chăm sóc, chỉ khác nguồn sữa nuôi thì em được nuôi hoàn toàn bằng sữa mẹ có IQ cao hơn từ 3-8 điểm so với em khác khi được 3 tuổi.

Lý do, sữa mẹ rất giàu năng lượng axit béo omega 3, tăng cường màng tế bào não, tăng hiệu quả dẫn truyền dẫn tạo ra từ những xung chấn thần kinh cho trẻ.

IQ biến đổi theo ngày sinh[edit]

Tuổi nhập học của các em giống nhau nhưng trẻ sinh vào 3 tháng cuối năm đi học muộn hơn bạn bè. Các nhà nghiên cứu phát hiện những đứa trẻ sinh muộn trong năm sẽ có IQ thấp hơn vì mỗi năm học IQ của trẻ sẽ tăng được 3,5 điểm. Với thời gian đi học ít hơn các bạn nên những em sinh muộn trong năm có IQ thấp hơn.

Gen di truyền ảnh hưởng IQ[edit]

Nghiên cứu 2 anh em sinh đôi được nhận nuôi trong 2 gia đình trung lưu, người ta tìm raliên hệ này. Nhiều người nghĩ khi còn sống với gia đình, IQ của 2 anh em sẽ tương đồng. Chỉ khi họ bắt đầu cuộc sống tự lập, có những kinh nghiệm sống riêng thì IQ mới khác.

Sự thật, khi sống tự lập IQ của 2 anh em càng trở nên giống nhau vì chịu tác động từ gen di truyền ảnh hưởng tới trí thông minh của họ (sự tương đồng gen của 2 anh em là 50%).

Kích cỡ đầu liên quan IQ[edit]

Phải tới khi có phương tiện hiện đại quan sát hệ thần kinh, người ta mới chứng minh được mối liên hệ này là có thật nhưng nó không đáng kể. Minh chứng cụ thể nhất là cuộc khảo sát kích cỡ mủ đội đầu và IQ của quân đội Mỹ.

IQ thế hệ sau ngày càng tăng[edit]

IQ tăng gần 20 điểm sau mỗi thế hệ. Nếu tính điểm, hơn 90% người thế hệ hôm nay được gọi là thiên tài ở những thế hệ hôm qua. Sự tăng trưởng về chỉ số thông minh do ảnh hưởng của chế độ dinh dưỡng tốt hơn, thời gian đi học nhiều hơn, cha mẹ có phương pháp giáo dục con tốt hơn, đồ chơi thông minh và ưu điểm của máy vi tính.

IQ bị ảnh hưởng bởi thực đơn ăn uống[edit]

Các nhà nghiên cứu đã chứng minh chế độ ăn uống có khả năng ảnh hưởng tới chức năng của não, cá là thức ăn phát triển tốt nhất cho sự phát triển của não bộ. Theo phân tích số liệu quy mô lớn với hệ thống trường học ở New York, sự ảnh hưởng này rất lớn.

Kiểm tra IQ của gần 1 triệu trẻ em học sinh trước và sau khi đổi thực đơn bữa trưa (với thực phẩm ít chất bảo quản, màu thực phẩm, ít màu sắc và ít dùng gia vị nhân tạo), có đến 14% học sinh tiến bộ hơn hẳn, đặc biệt là với em có thể trạng yếu.

Tham khảo[edit]

  • Trần Trọng Thủy, Khoa học chẩn đoán tâm lý, NXB Giáo dục, 1992
  • Nguyễn Quang Dương, Tâm lý học chẩn đoán. Giáo trình dành cho các sinh viên đại học ngành tâm lý học.