Tam Quốc đỉnh lập

From Wikiversity
Jump to navigation Jump to search
Tam quốc khoảng năm 262, trước khi Thục bị diệt.

Tào Nguỵ[edit]

Sau khi chạy về phía bắc, Tào Tháo thu phục các khu vực ở miền tây bắc năm 211, đặc biệt là trong trận Đồng Quan, ông đã đánh bại được hai thế lực cát cứ là Mã SiêuHàn Toại, qua đó củng cố vững chắc quyền lực của mình. Ông ta tăng nhanh chức vụ cũng như sức mạnh quân đội, cuối cùng đạt đến tước phong Ngụy vương năm 217.

Đầu năm 220, Tào Tháo chết, tháng 10 năm đó con ông là Tào Phi phế bỏ vua Hán Hiến Đế,lên ngôi hoàng đế chấm dứt nhà Đông Hán, đặt quốc hiệu là Ngụy, hiệu Ngụy Văn Đế, đóng đô tại Lạc Dương, Tào Tháo được truy tôn là "Thái Tổ Vũ Hoàng Đế".

Thục Hán[edit]

Lưu Bị tấn công vào Ích Châu và năm 214 thay thế Lưu Chương cai trị khu vực này, giao cho Quan Vũ cai quản Kinh Châu. Tôn Quyền, trong những năm sau đó bị vướng bận với việc chống lại Tào Tháo tại miền đông nam ở Hợp Phì, bây giờ bắt đầu chú ý tới mảnh đất Kinh Châu màu mỡ và miền trung sông Dương Tử. Sự bất hòa giữa hai quốc gia liên minh này ngày càng tăng lên. Năm 219, sau khi Lưu Bị chiếm được Hán Trung và Tương Dương từ Tào Tháo, đại tướng của Ngô là Lã Mông đã bắt giết Quan Vũ và tái chiếm Kinh Châu.

Năm 221, Lưu Bị cũng tự xưng là Hoàng đế kế tục nhà Hán, tức Tiên chủ của Thục Hán với mục đích khôi phục nhà Hán. (Quốc gia này trong sử sách gọi là "Thục" hay "Thục-Hán".)

Trong năm đó, Ngụy ban cho Tôn Quyền tước hiệu Ngô vương. Một năm sau, do việc Tôn Quyền sai Lã Mông bắt giết tướng Thục Hán là Quan Vũ và chiếm đóng toàn bộ Kinh Châu, quân đội Thục Hán tuyên bố chiến tranh với Đông Ngô và giao tranh với quân Ngô tại trận Di Lăng. Tại Hào Đình, Lưu Bị bị tướng của Tôn Quyền là Lục Tốn đánh bại và phải lui quân về Thục, sau đó băng hà vào năm 222 tại thành Bạch Đế.

Đông Ngô[edit]

Sau cái chết của Lưu Bị, Thục và Ngô dưới sự liên kết của Khổng Minh, đã thiết lập lại quan hệ bang giao để chống Tào Ngụy, tạo nên sự ổn định của trục ba quốc gia. Cuối năm 222 sau đại thắng Di Lăng, Tôn Quyền tự xưng vua Ngô độc lập với nhà Nguỵ nhưng vẫn khiêm tốn giữ tước hiệu "Ngô Vương" cho đến năm 229, Tôn Quyền chính thức từ chối công nhận nhà Ngụy của Tào Phi và lên ngôi hoàng đế tại Vũ Xương,thành lập nhà Đông Ngô.

Thế chân vạc Tam Quốc chính thức hình thành. Phần lớn miền bắc hoàn toàn thuộc nhà Ngụy, trong khi đó Thục chiếm miền tây nam bao gồm Tứ Xuyên và Ngô chiếm miền trung tâm phía nam và phía đông. Biên giới phía ngoài của ba quốc gia này bị giới hạn bởi ảnh hưởng của nền văn minh Trung Hoa. Ví dụ, kiểm soát về chính trị của nhà Thục trên biên giới phía nam của mình bị giới hạn bởi các bộ lạc người Thái trong tỉnh Vân NamMyanma ngày nay, nhà Ngô không thể vươn tới mà phải tồn tại cùng nước Lâm Ấp (của người Chăm).

Về sau[edit]

Năm 222, con Lưu Bị là Lưu Thiện lên ngôi kế nghiệp cha. Thất bại của Lưu Bị tại Hào Đình kết thúc thời kỳ thù địch giữa Ngô và Thục và cả hai tận dụng cơ hội này để tập trung vào những vấn đề trong nước cũng như để đối phó với nhà Ngụy. Đối với Tôn Quyền, chiến thắng này cũng kết thúc sự e ngại của ông về việc nhà Thục mở rộng về phía Kinh Châu và ông có thể nhòm ngó tới các bộ tộc thiểu số ở phía đông nam, là những bộ tộc mà người Hán gọi chung là "Sơn Việt" (xem thêm người Việt (tiếng Hoa)Việt (tiếng Hoa) (越, 粵, 鉞)). Năm 234 ông ta đã đè bẹp các bộ lạc nổi dậy. Trong năm này, mười vạn quân Sơn Việt phải đầu hàng Gia Cát Cẩn sau ba năm bị bao vây ở Đan Dương (丹陽). Trong số này, bốn vạn người Man Di đã bị bắt đi lính cho nhà Ngô. Trong khi đó nhà Thục cũng gặp sự chống cự của bộ tộc bản xứ ở phía nam. Bộ tộc Di (彝族) ở phía tây nam đã nổi dậy chống nhà Hán, chiếm giữ Ích Châu. Gia Cát Lượng, để tránh thế hai đầu đối địch, đã dẫn ba cánh quân tiến đánh bộ tộc Di. Quân đội của ông đã đánh một số trận với vua người Man là Mạnh Hoạch, cuối cùng Mạnh Hoạch đã phải đầu hàng. Những người thổ dân (theo cách gọi của người Hán) được phép cư trú tại kinh đô nhà Thục ở Thành Đô như những công dân chính thức và người Di cũng phải đi lính cho nhà Thục.

Vào cuối cuộc chinh chiến miền nam của Gia Cát Lượng, liên minh Thục - Ngô đang hưng thịnh và nhà Thục Hán có thể đem quân lên phía bắc. Năm 227 Gia Cát Lượng đem quân đến Hán Trung, mở đầu cho những trận đánh với Ngụy ở phía tây bắc. Năm sau, ông cho Triệu Vân (趙雲), tấn công từ Tà Cốc để nghi binh trong khi tự mình dẫn quân đến Kỳ Sơn. Quân tiên phong của Mã Tốc tuy nhiên đã bị đánh bại tại Nhai Đình và quân Thục phải rút lui. Trong sáu năm tiếp theo Gia Cát Lượng đã vài lần đem quân tiến ra bắc Kỳ Sơn nhưng sự hạn chế về lương thảo, lại do đô đốc nhà Ngụy lúc đó là Tư Mã Ý phòng thủ nên ông đã không thành công. Năm 234 ông đem quân lần cuối tấn công ra bắc, đánh với quân Ngụy tại Vị Nam ở phía nam sông Vị Thủy. Vì cái chết đột ngột của ông, quân Thục lại phải rút lui.

Trong thời gian những cuộc đánh lớn của Gia Cát Lượng ra miền bắc thì nhà Ngô luôn luôn phải đề phòng chống lại sự xâm lấn của nhà Ngụy. Khu vực quanh Hợp Phì thường xuyên dưới áp lực của Ngụy kể từ sau trận Xích Bích và là chiến trường cho những trận giao tranh cỡ nhỏ hơn. Do lo sợ chiến tranh nhiều người dân đã phải di cư tới miền nam sông Dương Tử. Sau cái chết của Gia Cát Lượng, những cuộc tấn công vào khu vực Hoài Nam đã tăng lên nhưng không có kết quả gì, nhà Ngụy không thể phá vỡ phòng tuyến của quân Ngô trên sông, kể cả pháo đài Nhu Tu (濡鬚).

Thời gian cai trị kéo dài của Tôn Quyền là khoảng thời gian sung túc nhất của quốc gia này. Việc di dân từ phía bắc và "giải quyết xong" các bộ lạc thiểu số Man Di đã làm tăng nhân lực cho nông nghiệp, đặc biệt là ở hạ lưu sông Dương Tử. Vận tải đường sông phát triển, với sự ra đời của các kênh Chiết ĐôngGiang Nam. Thương mại với Thục phát triển, với một sự lưu thông lớn của bông từ Thục và sự phát triển của đồ tráng men và công nghệ luyện kim. Vận tải biển đã được hoàn thiện hơn để có thể đến được Mãn Châu và đảo Đài Loan. Về phía nam, các thương nhân Ngô đã đến Luy LâuPhù Nam). Với sự phát triển của kinh tế thì văn hóa, nghệ thuật cũng phát triển theo. Tại đồng bằng sông Dương Tử, những ảnh hưởng đầu tiên của Phật giáo đã xuất hiện ở phía nam Lạc Dương. (Xem Phật giáo ở Trung Quốc)