Lịch sử 7/Nước ta buổi đầu độc lập

From Wikiversity
Jump to navigation Jump to search

Ngô Quyền dựng nền độc lập[edit]

Sau chiến thắng Bạch Đằng (938), mưu đồ xâm lược của quân Nam Hán bị đè bẹp, năm 939 Ngô Quyền lên ngôi vua, chọn Cổ Loa làm kinh đô.

Hơn 10 thế kỉ thống trị của các triều đại phong kiến phương Bắc đã chấm dứt. Nền độc lập và chủ quyền của đất nước được giữ vững.

Ngô Quyền quyết định bỏ chức tiết độ sứ của phong kiến phương Bắc, thiết lập một triều đình mới ở trung ương. Vua đứng đầu triều đình, quyết định mọi công việc chính trị, ngoại giao, quân sự; đặt ra các chức quan văn, võ, quy định các lễ nghi trong triều và màu sắc trang phục của quan lại các cấp.

Ở địa phương, Ngô Quyền cử các tướng có công coi giữ các châu quan trọng. Đinh Công Trứ làm Thứ sử Hoan Châu (Nghệ An, Hà Tĩnh), Kiều Công Hãn làm Thứ sử Phong Châu (Phú Thọ),...

Đất nước được yên bình.

Tình hình chính trị cuối thời Ngô[edit]

Năm 944, Ngô Quyền mất. Hai con là Ngô Xương Ngập và Ngô Xương Văn còn trẻ, không đủ uy tín và sức mạnh để giữ vững chính quyền trung ương.

Một viên quan là Dương Tam Kha đã tiếm quyền, tự xưng là Bình Vương. Ngô Xương Ngập bỏ trốn.

Các phe phái nổi lên khắp nơi, đất nước lâm vào tình trạng không ổn định.

Năm 950, Ngô Xương Văn được sự ủng hộ của các tướng lĩnh đã lật đổ được Dương Tam Kha, giành lại ngôi vua. Xương Văn mời anh về cùng nhau trông coi việc nước. Song, do mâu thuẫn nội bộ, uy tín nhà Ngô giảm sút. Năm 965, Ngô Xương Văn chết. Cuộc tranh chấp giữa các thế lực cát cứ, thổ hào địa phương vẫn tiếp diễn. Lúc đó, đất nước rơi vào tình trạng chia cắt, hỗn loạn bởi 12 tướng lĩnh chiếm cứ các vùng địa phương, đánh lẫn nhau, sử cũ gọi là "Loạn 12 sứ quân", đó là:

1. Ngô Nhật Khánh chiếm giữ Đường Lâm (Sơn Tây – Hà Nội ngày nay)

2. Kiều Công Hãn giữ Phong Châu (Phú Thọ ngày nay)

3. Kiều Thuận giữ Hồi Hồ (Cẩm Khê – Phú Thọ ngày nay)

4. Nguyễn Khoan giữ Tam Đái (Vĩnh Tường – Vĩnh Phúc ngày nay)

5. Nguyễn Thủ Tiệp giữ Tiên Du (Bắc Ninh ngày nay)

6. Nguyễn Siêu giữ Tây Phù Liệt (Thanh Trì – Hà Nội ngày nay)

7. Lý Khuê giữ Siêu Loại (Thuận Thành – Bắc Ninh ngày nay)

8. Lữ Đường giữ Tế Giang (Văn Giang – Hưng Yên ngày nay)

9. Phạm Bạch Hổ giữ Đằng Châu (Kim Động – Hưng Yên ngày nay)

10. Đỗ Cảnh Thạc giữ Đỗ Động Giang (Quốc Oai – Hà Nội ngày nay)

11. Trần Lãm giữ Bố Hải Khẩu (thành phố Thái Bình ngày nay)

12. Ngô Xương Xí giữ Bình Kiều (Triệu Sơn – Thanh Hoá ngày nay)

Đinh Bộ Lĩnh thống nhất đất nước[edit]

Trong hoàn cảnh nói trên, tại đất Hoa Lư (Ninh Bình) xuất hiện nhân vật Đinh Bộ Lĩnh – người sau này lập ra nhà Đinh.

Nhờ sự ủng hộ của nhân dân, Đinh Bộ Lĩnh liên kết với sứ quân Trần Lãm, chiêu dụ được sứ quân Phạm Bạch Hổ, tiến đánh các sứ quân khác.

Là người có tài, lại được nhân dân nhiều địa phương giúp sức, ủng hộ, ông đánh đâu thắng đấy, được tôn là Vạn Thắng vương. Các sứ quân lần lượt bị đánh bại hoặc xin hàng. Tình trạng cát cứ chấm dứt. Cuối năm 967, đất nước trở lại bình yên, thống nhất.

Tham khảo[edit]

  • SGK Lịch sử 7, NXB Giáo dục Việt Nam, 2019.