Lịch sử 9/Cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp xâm lược kết thúc (1953 – 1954)

From Wikiversity
Jump to navigation Jump to search

Kế hoạch Na-va của Pháp và Mỹ[edit]

– Ngày 7/5/1953, tướng Na-va được cử làm Tổng chỉ huy quân đội viễn chinh Pháp ở Đông Dương. Na-va đã vạch ra kế hoạch quân sự nhằm thay đổi cục diện chiến tranh ở Đông Dương với hy vọng trong vòng 18 tháng sẽ “kết thúc chiến tranh trong danh dự”.

– Kế hoạch Na-va được chia thành 2 bước:

+ Bước thứ nhất, trong thu – đông 1953 và xuân 1954, giữ thế phòng ngự chiến lược ở Bắc Bộ, tiến công chiến lược để bình định Trung Bộ và Nam Đông Dương, xây dựng quân đội cơ động chiến lược mạnh.

+ Bước thứ hai, từ thu – đông 1954, chuyển lực lượng ra chiến trường Bắc Bộ, thực hiện tiến công chiến lược, cố gắng giành thắng lợi quân sự quyết định, buộc ta phải đàm phán với những điều kiện cho lợi cho chúng nhằm nhanh chóng kết thúc chiến tranh.

– Từ thu – đông 1953, Na-và tập trung ở đồng bằng Bắc Bộ 44 tiểu đoàn quân cơ động, càn quét nhằm bình định vùng chiếm đóng, mở cuộc tiến công lớn vào Ninh Bình, Thanh Hóa để phá vỡ kế hoạch tiến công của ta.

Cuộc tiến công chiến lượng Đông – Xuân 1953 – 1954 và chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ 1954[edit]

Cuộc tiến công chiến lược Đông – Xuân 1953 – 1954[edit]

– Chủ trương, kế hoạch của ta:

+ Tập trung lực lượng tiến công vào những hướng quan trọng, nơi địch tương đối yếu nhưng lại quan trọng về chiến lược mà chúng không thể bỏ nhằm tiêu diệt thêm sinh lực địch, giải phóng thêm đất đai.

+ Chủ động phân tán lực lượng địch, tạo điều kiện tiêu diệt chúng.

– Các cuộc tiến công chiến lược:

+ Tháng 12/1953, bộ đội ta tiến công và giải phóng thị xã Lai Châu, Pháp buộc phải điều quân tăng cường cho Điện Biên Phủ, biến nơi đây thành nơi tập trung quân binh lực thứ hai của Pháp.

+ Đầu tháng 12/1953, Liên quân Lào – Việt tấn công địch ở Trung Lào, giải phóng thị xã Thà Khẹt, uy hiếp Xa-van-na-khét và Xê-nô, buộc địch phải tăng quân cho Xê-nô biến nơi đây thành nơi tập trung binh lực thứ ba của Pháp.

+ Tháng 1/1954, liên quân Lào-Việt tiến công địch ở Thượng Lào, giải phóng lưu vực sông Nậm Hu và tỉnh Phông-xa-lì, buộc Pháp phải tăng quân cho Luông Pha-bang và Mường Sài, Luông Pha-bang và Mường Sài trở thành nơi tập trung quan thứ tư của thực dân Pháp.

+ Tháng 2/1954, ta giải phóng toàn tỉnh Kon Tum, uy hiếp Plây-ku, địch phải tăng cường binh lực cho Plây-ku. Đây trở thành nơi tập trung binh lực thứ năm của Pháp.

Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ – 1954[edit]

Bối cảnh lịch sử

– Kế hoạch Na-va bước đầu bị phá sản, Pháp –Mỹ xây dựng tập đoàn cứ điểm Điên Biên Phủ mạnh nhất Đông Dương, gồm 16.200 tên địch, 3 phân khu (phân khu Bắc, phân khu Trung tâm và phân khu Nam) với 49 cứ điểm và vũ khí, trang thiết bị hiện đại.

– Ta quyết tâm tiêu diệt địch ở Điện Biên Phủ. Để tiêu diệt sinh lực địch, giải phóng vùng Tây Bắc, tạo điều kiện giải phóng Bắc Lào.

Diễn biến

– Diễn biến: chiến dịch Điện Biên Phủ được chia làm 3 đợt:

+ Đợt 1: từ ngày 13 đến ngày 17/3/1954: quân ta tiến công tiêu diệt cụm cứ điểm Him Lam và toàn bộ phân khu Bắc.

+ Đợt 2: từ ngày 30/3 đến ngày 26/4/1954: quân ta đồng loạt tiến công các cứ điểm phía đông phân khu Trung tâm như các cứ điểm E1, D1, C1, A1,… bao vây, chia cắt, khống chế địch.

+ Đợt 3: từ ngày 1/5 đến ngày 7/5/1954: quân ta đồng loạt tiến công phân khu Trung tâm và phân khu Nam, chiều ngày 7/5 tướng Đờ Ca-xtơ-ri cùng toàn bộ Ban tham mưu của địch đầu hàng và bị bắt sống.

Kết quả

Ta đã loại khỏi vòng chiến đấu 16200 địch, trong đó có 1 thiếu tướng; bắn rơi và phá hủy 62 máy bay các loại; thu toàn bộ vũ khí, phương tiện chiến tranh.

Ý nghĩa

Đập tan hoàn toàn kế hoạch Na-va, giáng đòn quyết định vào ý chí xâm lược của thực dân Pháp, làm xoay chuyển cục diện chiến tranh ở Đông Dương, tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc đấu tranh ngoại giao của ta giành thắng lợi.

Hiệp định Giơ-ne-vơ về chấm dứt chiến tranh ở Đông Dương (1954)[edit]

– Ngày 21/7/1954, Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết.

– Nội dung:

+ Các nước tham dự Hội nghị Giơ-ne-vơ cam kết tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản là độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của 3 nước Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia.

+ Các bên tham chiến thực hiện ngừng bắn, lập lại hòa bình trên toàn Đông Dương.

+ Các bên tham chiến thực hiện cuộc tập kết, chuyển quân, chuyển giao khu vực.

+ Cấm đưa quân đội, nhân viên quân sự và vũ khí nước ngoài vào các nước Đông Dương.

+ Ở Việt Nam: Quân đội nhân dân Việt Nam và quân Pháp tập kết ở 2 miền Bắc – Nam, lấy vĩ tuyến 17 làm ranh giới quân sự tạm thời; tiến tới thống nhất bằng cuộc tổng tuyển cử tự do trong cả nước sẽ được tổ chức vào tháng 7/1956 dưới sự kiểm soát và giám sát của một Ủy ban quốc tế.

– Ý nghĩa: Hiệp định Giơ-ne-vơ đã đánh dấu mốc thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, buộc Pháp phải chấm dứt chiến tranh xâm lược, rút hết quân đội về nước; Mỹ thất bại trong âm mưu kéo dài, mở rộng, quốc tế hóa chiến tranh xâm lược Đông Dương.

Ý nghĩa lịch sử và nguyên nhân thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp[edit]

Ý nghĩa[edit]

– Chấm dứt cuộc chiến tranh xâm lược, đồng thời chấm dứt ách thống trị thực dân Pháp trong gần 1 thế kỷ trên đất nước ta. Miền Bắc được giải phóng, chuyển sang giai đoạn cách mạng xã hội chủ nghĩa.

– Giáng một đòn nặng nề vào tham vọng xâm lược, âm mưu nô dịch của chủ nghĩa đế quốc, góp phần làm tan rã hệ thống thuộc địa, cổ vũ mạnh mẽ phong trào giải phóng dân tộc ở các nước Á, châu Phi và khu vực Mỹ La-tinh.

Nguyên nhân thắng lợi[edit]

– Có sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, với đường lối chính trị, quân sự và đường lối kháng chiến đúng đắn, sáng tạo.

– Có chính quyền dân chủ nhân dân, có Mặt trận dân tộc thống nhất, có lực lượng vũ tang 3 thứ quân, có hậu phương rộng lớn, vững mạnh.

– Có liên minh chiến đấu của nhân dân 3 nước Đông Dương; có sự đồng tình, ủng hộ, giúp đỡ của Trung Quốc, Liên Xô, các nước dân chủ nhân dân và các nước khác.

Tham khảo[edit]

  • SGK Lịch sử 9 – NXB Giáo dục Việt Nam, tái bản lần thứ mười lăm.