Lịch sử 9/Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đấu tranh chống đế quốc Mĩ và chính quyền Sài Gòn ở miền Nam (1954 - 1965)

From Wikiversity
Jump to navigation Jump to search

Tình hình nước ta sau Hiệp định Giơ-ne-vơ 1954 về Đông Dương[edit]

a. Tình hình Việt Nam sau khi ký Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954

- Với việc ký Hiệp định Giơ-ne-vơ, nước Việt Nam tạm thời bị chia cắt thành hai miền với hai chế độ chính trị khác nhau.

+ Miền Bắc hoàn toàn được giải phóng và bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.

+ Ở miền Nam, Mỹ vào thay chân Pháp, đưa Ngô Đình Diệm lên nắm chính quyền, âm mưu chia cắt lâu dài nước Việt Nam, biến miền Nam Việt Nam  thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của Mỹ ở Đông Dương.

b. Nhiệm vụ cách mạng

- Tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng ở hai miền: cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân ở miền Nam, tiến tới hòa bình thống nhất Tổ quốc. Đây là đặc điểm lớn nhất, độc đáo nhất của cách mạng Việt Nam thời kỳ 1954 - 1975.

- Vai trò và mối quan hệ của cách mạng hai miền: Miền Bắc có vai trò quyết định nhất đối với cách mạng cả nước, còn miền Nam có vai trò quyết định trực tiếp trong cuộc đấu tranh lật đổ ách thống trị của đế quốc Mỹ và tay sai, giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc tiến tới thống nhất Tổ quốc.

- Cách mạng hai miền có quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau, phối hợp với nhau, tạo điều kiện cho nhau phát triển. Đó là quan hệ giữa hậu phương vơi tiền tuyến.

Miền Bắc hoàn thành cải cách ruộng đất. Khôi phục kinh tế, cải tạo quan hệ sản xuất (1954 - 1960)[edit]

Hoàn thành cải cách ruộng đất[edit]

- Từ năm 1953 - 1956 miền Bắc tiến hành tiếp 5 đợt cải cách ruộng đất, thực hiện triệt để “Người cày có ruộng”.

- Kết quả: khoảng 81 vạn hécta ruộng đất, 10 vạn trâu bò, 1,8 triệu nông cụ được chia cho nông dân. Khẩu hiệu "Người cày có ruộng đã trở thành hiện thực.


- Mặc dù vậy, trong quá trình thực hiện cải cách, chúng ta đã mắc phải một số sai lầm như: đấu tố tràn lan, cả những địa chủ kháng chiến, người có công với cách mạng, quy nhầm nông dân, cán bộ, đảng viên thành địa chủ. Sau đó, sai lầm này đã được khắc phục, nhờ đó hạn chế được hậu quả.

- Ý nghĩa : giai cấp địa chủ phong kiến bị đánh đổ, khối liên minh công nông được củng cố, góp phần cho khôi phục kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh.

Miền Nam đấu tranh chống chế độ Mỹ- Diệm, giữ gìn và phát triển lực lượng cách mạng, tiến tới “Đồng Khởi”(1954 - 1960)[edit]

Đấu tranh chống chế độ Mĩ- Diệm, giữ gìn và phát triển lực lượng cách mạng (1954 - 1960)[edit]

*Hoàn cảnh

Mĩ thay chân Pháp là kẻ thù chính, trực tiếp của nhân dân ta.

*Diễn biến

- Tháng 8 - 1954 diễn ra “Phong trào hoà bình” của trí thức và nhân dân Sài Gòn – Chợ Lớn.

- Tháng 11 - 1954, Mĩ –Diệm tiến hành khủng bố -> Phong trào vẫn dâng cao.

- 1958 – 1959, hình thức đấu tranh có nhiều thay đổi, phong trào đấu tranh còn nhằm chống khủng bố, chống “tố cộng”, “diệt cộng”, đòi tự do, dân sinh, dân chủ, giữ gìn phát triển lực lượng cách mạng.

Phong trào “Đồng khởi” (1959 - 1960)[edit]

a. Hoàn cảnh lịch sử

- 1957 - 1959 Mỹ - Diệm khủng bố cách mạng, mở rộng chiến dịch tố cộng, diệt cộng, ra đạo luật 10 - 1959 lê máy chém khắp miền Nam.

=> Mâu thuẫn trong xã hội miền Nam trở nên gay gắt.

- Hội Nghị Trung ương Đảng lần thứ 15 (đầu năm 1959) đã xác định con đường cơ bản của cách mạng miền Nam là khởi nghĩa giành chính quyền bằng lực lượng chính trị của quần chúng là chủ yếu, kết hợp với lực lượng vũ trang nhân dân.

b. Diễn biến của cuộc “Đồng Khởi”

- Phong trào từ chỗ lẻ tẻ từng địa phương như cuộc nổi dậy ở Vĩnh Thạnh (Bình Định), Bác Ái (Ninh Thuận) tháng 2 - 1959, Trà Bồng (Quảng Ngãi) tháng 8 - 1959, lan rộng khắp miền Nam thành cao trào cách mạng.

-  Tại Bến Tre, ngày 17 - 1 - 1960, phong trào “Đồng Khởi” nổ ra ở huyện Mỏ Cày, sau đó nhanh chóng lan ra toàn tỉnh Bến Tre, phá vỡ từng mảng lớn chính quyền địch.

- Phong trào “Đồng khởi” nhanh chóng lan ra khắp Nam Bộ và Tây Nguyên và một số nơi ở Trung Trung Bộ.

c. Kết quả

- Đến năm 1960, nhân dân miền Nam đã làm chủ nhiều thôn, xã ở Nam Bộ, ven biển Trung Bộ và Tây Nguyên.

- Thắng lợi của phong trào “Đồng khởi” dẫn đến sự ra đời của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam (20 - 12 - 1960), giương cao ngọn cờ đoàn kết mọi tầng lớp nhân dân miền Nam đấu tranh chống Mỹ và tay sai, nhằm thực hiện một miền Nam Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, trung lập, tiến tới hòa bình thống nhất Tổ Quốc.

d. Ý nghĩa

- Phong trào “Đồng khởi” thắng lợi đã đánh dấu bước ngoặt của cách mạng miền Nam, chuyển cách mạng từ thế giữ gìn lực lượng sang thế tiến công, từ khởi nghĩa từng phần tiến lên làm chiến tranh cách mạng.

- Chấm dứt thời kỳ ổn định tạm thời của chế độ thực dân mới của Mỹ ở miền Nam, mở ra thời kỳ khủng hoảng của chế độ Sài Gòn.

- Chống chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ (1961 - 1965).

Miền Bắc xây dựng bước đầu cơ sở vật chất, kĩ thuật của chủ nghĩa xã hội (1961 - 1965)[edit]

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (9- 1960)[edit]

a. Hoàn cảnh

- Xác định nhiệm vụ chiến lược chung của cách mạng cả nước: Tăng cường đoàn kết các dân tộc, quyết tâm đấu tranh giữ vững hòa bình; đẩy mạnh cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, đồng thời đẩy mạnh cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam; tiến tới hòa bình thống nhất đất nước trên cơ sở độc lập dân tộc và dân chủ xây dựng một nước Việt Nam hòa bình thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, góp phần tăng cường phe xã hội chủ nghĩa và bảo vệ hòa bình thế giới.

- Xác định nhiệm vụ chiến lược của cách mạng mỗi miền:

+ Miền Bắc bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội. Đưa miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội, xây dựng miền Bắc vững mạnh là tạo cơ sở cho cuộc đấu tranh thống nhất đất nước.

+ Miền Nam tiếp tục cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, lật đổ ách thống trị của đế quốc Mỹ và tay sai, nhằm giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, tiến tới hòa bình thống nhất đất nước.

- Xác định vai trò cách mạng của mỗi miền và mối quan hệ giữa cách mạng hai miền.

+ Cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc có vai trò quyết định nhất đối với sự phát triển của cách mạng cả nước.

+ Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam có vai trò quyết định trực tiếp đối với sự nghiệp giải phóng miền Nam.

+ Cách mạng hai miền có quan hệ mật thiết, gắn bó và tác động lẫn nhau, đều nhằm thực hiện một nhiệm vụ chiến lược chung là giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, tiến tới hòa bình thống nhất đất nước.

- Thông qua Kế hoạch nhà nước 5 năm lần thứ nhất (1961 - 1965); bầu Ban Chấp hành Trung ương mới của Đảng, bầu Bộ Chính trị.

- Ý nghĩa: Nghị quyết của Đại hội đã soi sáng những vấn đề chủ yếu của cách mạng Việt Nam ở cả hai miền Nam, Bắc; hướng dẫn và thúc đẩy nhân dân hai miền hăng hái phấn đấu giành thắng lợi trong sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam; thực hiện hòa bình thống nhất đất nước.

Miền Bắc thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961 - 1965)[edit]

- Mục tiêu: bước đầu xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội.

- Nhiều phong trào thi đua yêu nước sôi nổi diễn ra trên miền Bắc: Duyên hải, Đại phong, Thành Công, Ba nhất, Hai tốt… đặc biệt là phong trào Mỗi người làm việc bằng hai vì miền Nam ruột thịt.

- Công nghiệp: ưu tiên xây dựng. Giá trị sản lượng ngành công nghiệp nặng năm 1965 tăng 3 lần so với năm 1960.

- Nông nghiệp: thực hiện chủ trương xây dựng hợp tác xã sản xuất nông nghiệp bậc cao, nhiều hợp tác xã đạt năng suất 5 tấn thóc - ha…

- Thương nghiệp quốc doanh được ưu tiên phát triển, góp phần củng cố quan hệ sản xuất, cải thiện đời sống nhân dân.

- Hệ thống giao thông đường bộ, đường sắt, đường sông, đường hàng không được củng cố. Việc đi lại trong nước và giao thông quốc tế thuận lợi hơn.

- Hệ thống giáo dục từ phổ thông đến đại học phát triển nhanh.

- Hệ thống y tế, chăm sóc sức khỏe được phát triển.

- Mặc dù kế hoạch này phải bỏ dở, vì từ ngày 5 - 8 - 1964, đế quốc Mỹ tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc, nhưng những kết quả đạt đươc là rất đánhg tự hào, nhờ đó, miền Bắc đứng vững trong thử thách của chiến tranh và hoàn thành nghĩa vụ hậu phương đối với tiền tuyến miền Nam.

Miền Nam chiến đấu chống chiến lược "Chiến tranh đặc biệt" của Mĩ (1961 - 1965)[edit]

Chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của Mĩ ở miền Nam 1961 - 1965[edit]

- Từ cuối năm 1960, hình thức thống trị bằng chính quyền tay sai độc tài Ngô Đình Diệm bị thất bại, đế quốc Mỹ chuyển sang thực hiện chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” (1961 - 1965).

- “Chiến tranh đặc biệt” là một loại hình chiến tranh thực dân mới, được tiến hành bằng quân đội tay sai, dưới sự chỉ huy của hệ thống cố vấn Mỹ, dựa vào vũ khí, trang bị kỹ thuật, phương tiện chiến tranh của Mỹ, nhằm chống lại các lực lượng cách mạng và yêu nước của ta.

- Biện pháp:

+ Thực hiện liên tiếp hai kế hoạch: “Kế hoạch Xta-lây tay-lo” (bình định miền Nam trong vòng 18 tháng) và “Kế hoạch Giôn-xơn – Mắc-na-ma-ra” (bình định miền Nam trong vòng 24 tháng).

+ Tăng cường xây dựng quân đội Sài Gòn làm lực lượng chiến đấu chủ yếu trên chiến trường, tăng nhanh viện trợ quân sự cho quân đội Sài Gòn, với nhiều vũ khí và phương tiện chiến tranh hiện đại, nhất là các chiến thuật mới như “trực thăng vận” và “thiết xa vận”; tăng cố vấn Mỹ để chỉ huy, thành lập Bộ chỉ huy quân sự Mỹ - MACV (năm 1962).

+ Ra sức dồn dân lập “ấp chiến lược”, tách rời nhân dân với phong trào cách mạng, thực hiện “tát nước bắt cá”.

Quân dân miền Nam chiến đấu chống “chiến tranh đặc biệt” của Mỹ[edit]

- Trong những năm 1961 - 1962, quân Giải phóng đã đẩy lùi nhiều cuộc tiến công, tiêu diệt nhiều đồn bốt lẻ của địch. Tháng 1 - 1963, ta giành thắng lợi lớn trong chiến dịch Ấp Bắc, chứng minh quân dân miền Nam hoàn toàn có khả năng đánh thắng chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của Mỹ, mở ra phong trào “Thi đua Ấp Bắc, giết giặc lập công”.

- Trên mặt trận chống bình định, phong trào nổi dậy chống phá “ấp chiến lược” diễn ra rất gay go quyết liệt, đến cuối năm 1962, cách mạng kiểm soát trên nửa tổng số ấp với gần 70% số dân.

- Phong trào đấu tranh chính trị ở các đô thị như Sài Gòn, Huế, Đà Nẵng có bước phát triển, nhất là các phong trào đấu tranh của học sinh, sinh viên, tiểu thương, Phật tử. Phong trào cũng phát triển mạnh ở các vùng nông thôn, nổi bật là cuộc đấu tranh của đội quân tóc dài.

- Do thất bại, nội bộ Mỹ và tay sai lục đục, dẫn tới cuộc đảo chính, giết chết Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu (11 - 1963). Từ cuối năm 1964, Mỹ thực hiện kế hoạch Giôn-xơn – Mắc-na-ma-ra. Số quân Mỹ ở miền Nam lên tới 25.000 nhưng vẫn không cứu vãn được tình hình.

- Trong Đông – Xuân 1964 - 1965, kết hợp với đấu tranh chính trị và binh vận, các lực lượng vũ trang giải phóng đẩy mạnh tiến công địch, giành thắng lợi trong các chiến dịch Bình Giã (Bà Rịa), An Lão (Bình Định), Ba Gia (Quảng Ngãi), Đồng Xoài (Biên Hòa), đẩy quân đội Sài Gòn đứng trước nguy cơ tan rã.

Phong trào đấu tranh ở đô thị và phong trào nổi dậy phá “ấp chiến lược” tiếp tục phát triển mạnh. Đến tháng 6 - 1965, địch chỉ còn kiểm soát được 2.200 trong tổng số 16.000 ấp. Xương sống của “Chiến tranh đặc biệt” bị bẻ gãy. Chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của Mỹ bị thất bại.

* Ý nghĩa

- Đây là thắng lợi có ý nghĩa chiến lược thứ hai của quân dân miền Nam, đồng thời là thất bại có ý nghĩa chiến lược lần thứ hai của Mỹ, buộc Mỹ phải chuyển sang chiến lược “Chiến tranh cục bộ”, trực tiếp đưa quân Mỹ vào tham chiến ở miền Nam.

Tham khảo[edit]

  • SGK Lịch sử 9 (trang 128, 129, 130, 131, 132, 133, 134, 135, 136, 137, 138, 139, 140, 141) - NXB Giáo dục Việt Nam ; Tái bản lần thứ mười lăm.